Dù chịu tác động từ thời tiết, chi phí đầu vào và biến động thị trường quốc tế, xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng và có nhiều tiềm năng để bứt phá trong 6 tháng cuối năm 2026.
Xuất khẩu thủy sản tiếp tục là điểm sáng
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam ước đạt 29,82 tỉ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhập khẩu 22,28 tỉ USD, tăng 12,6%, xuất siêu 7,54 tỉ USD. Xét theo nhóm hàng, lâm sản, thủy sản và nông sản là 3 nhóm hàng có cán cân thương mại 5 tháng đầu năm 2026 ở trạng thái thặng dư. Trong đó, nhóm thủy sản thặng dư 3,35 tỉ USD, tăng 15,5%.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu còn nhiều biến động, thủy sản tiếp tục là điểm sáng trong đó tôm và cá tra vẫn là 2 sản phẩm xuất khẩu và tạo nên vị thế riêng của thủy sản Việt Nam. Trên thị trường thế giới, Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm 3 nước xuất khẩu tôm lớn nhất với thị phần xuất khẩu khoảng 12% giá trị xuất khẩu tôm toàn cầu.
Cá tra cũng là sản phẩm Việt Nam có lợi thế rõ về vùng nhiên liệu, hệ thống chế biến và mạng lưới khách hàng quốc tế. Tuy nhiên, cá tra đang chịu sức ép cạnh tranh từ các loại cá thịt trắng khác như cá minh thái, cá rô phi... Bên cạnh đó, các nhóm hải sản khai thác như cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và một số sản phẩm thủy sản khác tiếp tục bổ sung dư địa tăng trưởng.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), một trong những điểm nổi bật để đưa kim ngạch xuất khẩu thủy sản bứt phá là năng lực công nghệ chế biến thủy sản của Việt Nam. "Có thể nói, Việt Nam đang đứng hàng đầu thế giới về trình độ chế biến các mặt hàng thủy sản giá trị gia tăng. Đây hiện tại là một ưu thế của chúng ta trước một số quốc gia xuất khẩu thủy sản cạnh tranh như Ecuador hay Ấn Độ. Những sản phẩm ăn liền, tiện lợi đã giúp giữ chân được khách hàng tại các phân khúc cao cấp dù áp lực cạnh tranh rất lớn".
Bên cạnh thủy sản, một số mặt hàng nông lâm thủy sản khác cũng duy trì đà tăng tích cực như nhóm gỗ và sản phẩm gỗ, giá trị xuất khẩu tháng 5 ước đạt 1,55 tỉ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm lên 7,12 tỉ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Ở nhóm chăn nuôi, giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi 5 tháng đầu năm đạt 308 triệu USD, tăng 43,2%. Đây là mức tăng đáng chú ý trong bối cảnh chăn nuôi trong nước vẫn đối mặt với không ít khó khăn về chi phí thức ăn, dịch bệnh và yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Ngành hàng rau quả cũng là điểm sáng với giá trị xuất khẩu 5 tháng đầu năm đạt 2,69 tỉ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ.
Sản xuất ổn định, ngành nông nghiệp rộng cửa xuất khẩu
Kết quả xuất khẩu tích cực đến từ nỗ lực duy trì sản xuất trong nhiều thách thức.
Ở lĩnh vực thủy sản, thời tiết nắng nóng kéo dài gây khó khăn cho cải tạo ao nuôi, thả giống và chăm sóc tại nhiều địa phương, chi phí nhiên liệu và vật tư đầu vào vẫn ở mức cao ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và khai thác của ngư dân. Dù vậy, tổng sản lượng thủy sản 5 tháng đầu năm vẫn ước đạt 3,96 triệu tấn, tăng 3,5%. Để thủy sản tiếp tục bứt phá, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, chúng ta đã vượt qua "cú sốc" thị trường, nhưng đây mới là lúc bước vào giai đoạn cạnh tranh thực sự. "Đây không còn là cuộc đua về giá, mà là cuộc đua về sự minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và năng lực tuân thủ. Các doanh nghiệp thủy sản đang gặp nhiều khó khăn, đang nỗ lực lớn để vượt qua các thách thức và chúng ta cần sự đồng hành "thực chất" và nhiều hơn nữa từ phía các cơ quan quản lý để khơi thông những dòng chảy đang bị nghẽn bởi một số các quy định, thủ tục".
Theo ông Đặng Ngọc Điệp - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để phát triển lĩnh vực thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững, đáp ứng tốt các yêu cầu thị trường, giảm thiểu các rủi ro về biến đổi khí hậu, dịch bệnh, trong thời gian tới, lĩnh vực thủy sản tập trung vào một số định hướng chiến lược như tiếp tục hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực tài nguyên, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, hình thành vùng nuôi quy mô lớn có tổ chức, đạt chứng chỉ bền vững gắn với truy suất vùng nuôi. Đặc biệt cần tăng đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số - đây là động lực then chốt nâng cao năng suất và chất lượng. Bên cạnh đó cần duy trì thị trường hiện tại, phát triển các thị trường mới, tập trung tháo gỡ rào cản phi thuế quan, nâng cao năng lực chống chịu và thích ứng biến đổi khí hậu, thực hiện chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn, tạo động lực tăng trưởng mới cho lĩnh vực thủy sản.
Những kết quả trên cho thấy ngành nông nghiệp đang giữ được nền sản xuất tương đối ổn định, tạo nguồn hàng cho xuất khẩu. Tuy nhiên, sức ép từ thời tiết cực đoan, dịch bệnh, chi phí đầu vào, tiêu chuẩn thị trường và cạnh tranh thương mại vẫn hiện hữu.
Về xuất khẩu nông lâm thủy sản nói chung, trong thời gian tới, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ xây dựng các kịch bản ứng phó thiên tai, dịch bệnh để chủ động ngăn chặn, phát hiện sớm và xử lý kịp thời.
Bộ cũng sẽ bám sát chính sách các nước, diễn biến thị trường thế giới để thông tin, hướng dẫn doanh nghiệp, nông dân tận dụng cơ hội xuất khẩu, thích ứng thị trường; đồng thời bảo đảm an ninh lương thực, dự trữ gạo phù hợp.
Cùng với đó, bộ đẩy nhanh đàm phán, mở cửa thị trường và phát triển thị trường phụ phẩm trong lĩnh vực nông nghiệp. Triển khai hiệu quả hệ thống truy xuất nguồn gốc trong bối cảnh các nước nhập khẩu tăng cường đưa ra tiêu chuẩn xuất xứ hàng hóa.