Bình đẳng giới là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì và bắt đầu từ thay đổi trong nhận thức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng. Tại Quảng Ninh, hành trình ấy đang được triển khai bằng nhiều cách làm linh hoạt, từ tuyên truyền, giáo dục đến các mô hình thực tiễn, qua đó từng bước tháo gỡ định kiến, thúc đẩy hành vi tiến bộ và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Từ tuyên truyền đến chuyển biến hành vi
Mô hình CLB “Thủ lĩnh của sự thay đổi” là điểm sáng trong thúc đẩy bình đẳng giới từ lứa tuổi học sinh. Từ mô hình thí điểm năm 2023 với 30 học sinh tại Trường THCS&THPT Hoành Mô, đến nay toàn tỉnh đã có 56 CLB, vượt chỉ tiêu đề ra. Không chỉ cung cấp kiến thức về quyền trẻ em, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực, xâm hại…, mô hình còn rèn luyện kỹ năng giao tiếp, tư duy phản biện, làm việc nhóm, những năng lực cốt lõi để các em trở thành “thủ lĩnh” trong cộng đồng.
Ba năm sau ngày triển khai thí điểm, trở lại Trường THCS&THPT Hoành Mô, chúng tôi cảm nhận rõ nét hiệu quả của mô hình CLB “Thủ lĩnh của sự thay đổi”. Không còn là những buổi sinh hoạt còn mang tính làm quen, rụt rè, nay các em học sinh đã chủ động xây dựng nội dung, điều hành thảo luận, mạnh dạn bày tỏ quan điểm về những vấn đề như định kiến giới, bạo lực học đường hay quyền được lên tiếng của trẻ em... Nhiều em đã trở thành hạt nhân tích cực trong các hoạt động ngoại khóa, tham gia tuyên truyền tại thôn, bản, góp phần thay đổi nhận thức của chính gia đình mình. Thầy cô giáo cũng ghi nhận sự chuyển biến rõ rệt trong môi trường học đường, không khí cởi mở, tôn trọng, chia sẻ được lan tỏa; những hành vi trêu chọc, phân biệt giới tính giảm rõ rệt.
Em Liêu Thị Trang (học sinh Trường THCS&THPT Hoành Mô), thành viên tích cực của CLB “Thủ lĩnh của sự thay đổi”, chia sẻ: “Tham gia CLB, em được thầy cô hướng dẫn nhiều kỹ năng thiết thực như giao tiếp, làm việc nhóm, đồng thời được tham gia nhiều hoạt động bổ ích, ý nghĩa. Nhờ vậy, em hiểu rõ hơn về bình đẳng giới, về quyền của trẻ em và dần trở nên tự tin hơn khi bày tỏ suy nghĩ của mình. Em cũng mang những điều học được về chia sẻ với bố mẹ, anh chị, để mọi người trong gia đình cùng biết tôn trọng lẫn nhau, không phân biệt con trai hay con gái. Em sẽ tiếp tục lan tỏa những điều tích cực ấy đến nhiều bạn khác trong thôn, bản và những người xung quanh”.
Cùng với mô hình CLB “Thủ lĩnh của sự thay đổi”, các mô hình khác thuộc Dự án 8 “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ và trẻ em” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025” cũng được Quảng Ninh triển khai đồng bộ, hướng mạnh về cơ sở. Các tổ truyền thông cộng đồng, CLB phòng chống bạo lực gia đình, “địa chỉ tin cậy” tại cộng đồng… đã trở thành điểm tựa quan trọng, giúp người dân tiếp cận thông tin, thay đổi nhận thức và hành vi. Mỗi địa phương lựa chọn nội dung phù hợp, từ phòng chống bạo lực gia đình, xóa bỏ hủ tục đến hỗ trợ phát triển kinh tế cho phụ nữ, đưa bình đẳng giới từ chủ trương vào đời sống.
Một trong những biểu hiện rõ nét của sự thay đổi nhận thức về bình đẳng giới tại Quảng Ninh chính là việc từng bước xóa bỏ các hủ tục, định kiến lạc hậu, đặc biệt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sau 10 năm triển khai đồng bộ các giải pháp, tình trạng tảo hôn trên địa bàn tỉnh đã giảm hơn 97%; nhiều năm liền không còn ghi nhận hôn nhân cận huyết thống.
Để đạt được kết quả đó, Quảng Ninh kiên trì gắn tuyên truyền với giáo dục. Nội dung về pháp luật hôn nhân, hệ lụy của tảo hôn được lồng ghép vào trường học, sinh hoạt cộng đồng, các mô hình CLB. Đặc biệt, việc duy trì sĩ số học sinh, khuyến khích các em gái học lên cao đã góp phần quan trọng trong việc “chặn đứng” nguy cơ tảo hôn. Khi được học tập, tiếp cận tri thức, trẻ em gái có thêm cơ hội phát triển bản thân, tự quyết định tương lai.
Vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín, hội phụ nữ, đoàn thanh niên… trở thành những “cầu nối” đưa chủ trương, chính sách đến từng hộ gia đình, tạo sự đồng thuận từ cơ sở. Khi nhận thức được nâng lên, người dân chủ động thay đổi, hướng tới cuộc sống tiến bộ hơn.
Từ tuyên truyền, quan niệm truyền thống về vai trò giới cũng dần thay đổi bằng sự chia sẻ và đồng hành. Những mô hình “Gia đình hạnh phúc”, “Nuôi dạy con tốt”, “Phòng, chống bạo lực gia đình”… góp phần lan tỏa những giá trị tích cực. Gia đình ông Tạ Văn Quý và bà Nguyễn Thị Điền (khu Hà Phong 3, phường Hà Tu) đã cùng nhau đi qua 44 năm hôn nhân trong sự hòa thuận, gắn bó. Điều giữ cho mái ấm ấy luôn êm ấm không phải điều gì lớn lao, mà chính là sự tôn trọng, đồng hành và sẻ chia trong cuộc sống thường ngày. Bà Nguyễn Thị Điền, chia sẻ: Trong gia đình tôi không có sự phân chia vai trò nam, nữ theo những khuôn mẫu cứng nhắc. Khi cần, chồng tôi sẵn sàng chăm sóc con cháu, đỡ đần việc nhà; còn tôi, với vai trò người vợ, cũng luôn cùng chồng bàn bạc, chia sẻ những việc lớn nhỏ trong gia đình. Theo tôi, điều quan trọng nhất là mỗi thành viên đều có tiếng nói riêng, được lắng nghe, được tôn trọng.
Những năm qua, công tác tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới tiếp tục được các cấp, ngành, địa phương trong tỉnh đổi mới về nội dung, hình thức, phù hợp với thực tế. Riêng giai đoạn 2021-2025, hàng nghìn hội nghị tuyên truyền trực tiếp đã được tổ chức, thu hút gần 49.000 lượt người tham gia; hơn 22.000 sản phẩm truyền thông được phát hành; hàng nghìn tin, bài, phóng sự được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng... Đặc biệt, việc tận dụng nền tảng số, mạng xã hội đã giúp thông điệp về bình đẳng giới lan tỏa nhanh chóng, sâu rộng, tiếp cận nhiều nhóm đối tượng khác nhau, góp phần đưa bình đẳng giới trở thành nhận thức chung trong xã hội.
Bình đẳng giới trong kỷ nguyên số
Trong kỷ nguyên công nghệ, bên cạnh những lợi ích to lớn, không gian mạng cũng đặt ra nhiều nguy cơ mới về bất bình đẳng giới. Tại Quảng Ninh, công tác thúc đẩy bình đẳng giới gắn với phòng ngừa, ứng phó bạo lực trên cơ sở giới đang có những chuyển biến rõ nét, nhất là trước những thách thức của môi trường số.
Tại xã Lương Minh, các buổi tuyên truyền về sử dụng mạng xã hội an toàn được tổ chức sinh động với nhiều tình huống thực tế như lừa đảo, bôi nhọ danh dự, quấy rối trực tuyến… Người dân không chỉ lắng nghe mà còn được hướng dẫn cách nhận diện thông tin xấu độc, bảo vệ tài khoản cá nhân và xử lý khi gặp rủi ro trên môi trường mạng. Theo bà Bàn Thị Miên (Chủ tịch Hội LHPN xã), Lương Minh có trên 97% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, việc tiếp cận thông tin về bình đẳng giới và an toàn số còn hạn chế. Vì vậy, cán bộ Hội đã chủ động “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, kết hợp ứng dụng mã QR, Zalo để truyền tải nội dung một cách linh hoạt, dễ tiếp cận.
Cách làm này cũng được triển khai hiệu quả tại Ba Chẽ, địa bàn có gần 77% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Bà Chị Tô Hồng Lai, Chủ tịch Hội LHPN xã Ba Chẽ, cho biết công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là phụ nữ và trẻ em gái, luôn được Hội đặc biệt quan tâm. Bên cạnh nội dung về bình đẳng giới, hậu quả của tảo hôn, hôn nhân cận huyết, Hội còn đẩy mạnh tuyên truyền, cảnh báo về các tệ nạn xã hội và nguy cơ lừa đảo trên không gian mạng. Nhờ cách làm linh hoạt, nhiều chị em đã biết sử dụng mạng xã hội một cách thông minh, an toàn, thiết thực hơn cho cuộc sống.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, công tác tuyên truyền về bình đẳng giới cũng được đổi mới theo hướng hiện đại, thiết thực. Thông qua phong trào “Bình dân học vụ số” và các lớp tập huấn kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo…, phụ nữ, nhất là ở vùng khó khăn không chỉ được trang bị kỹ năng số mà còn có thêm cơ hội tiếp cận thông tin, dịch vụ công, từng bước thu hẹp khoảng cách giới trong tiếp cận công nghệ. Đồng thời, các cấp Hội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, duy trì sinh hoạt trực tuyến, kết nối mạng lưới phụ nữ, hình thành cộng đồng số ngày càng rộng khắp.
Tại phường Bãi Cháy, các mô hình “Gia đình số”, “Chi hội phụ nữ số” được triển khai hiệu quả, tạo chuyển biến từ nhận thức đến hành động. Hai chiến dịch “30 ngày đêm cao điểm bình dân học vụ số” và “Phổ cập số cộng đồng” đã thu hút đông đảo hội viên tham gia. Đến nay, 1.780 hộ gia đình được hỗ trợ tiếp cận mô hình, trong đó 1.060 hộ đạt chuẩn; 100% chi hội duy trì nhóm Zalo, Facebook để điều hành hoạt động, lan tỏa thông tin và kết nối hội viên.
Theo bà Hoàng Thị Thu Phương, Chủ tịch Hội LHPN phường Bãi Cháy, việc phổ cập kỹ năng số không chỉ giúp người dân thích ứng với công nghệ mà còn góp phần thay đổi thói quen, nâng cao nhận thức. Khi phụ nữ tự tin hơn trong môi trường số, họ cũng chủ động hơn trong tiếp cận thông tin, tham gia xã hội và khẳng định vai trò của mình.
Bình đẳng giới trên không gian mạng vì thế không còn là khái niệm xa vời, mà gắn với từng hành vi ứng xử của mỗi người dùng. Việc chia sẻ thông tin có trách nhiệm, tôn trọng người khác, không tiếp tay cho nội dung xấu độc chính là những hành động thiết thực góp phần xây dựng môi trường mạng lành mạnh.
Từ những chuyển động tích cực ở cơ sở, tiếng nói của phụ nữ Quảng Ninh về bình đẳng giới không chỉ lan tỏa trong cộng đồng mà còn từng bước vươn ra các diễn đàn khu vực, quốc tế, khẳng định vị thế, bản lĩnh và vai trò chủ thể của phụ nữ trong thời đại mới. Tại Diễn đàn Giao lưu hợp tác phát triển phụ nữ ASEAN – Trung Quốc năm 2025, bà Nguyễn Thị Thủy, Phó Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Quảng Ninh đã phát biểu chủ đề “Cơ hội và thách thức đối với phụ nữ trong thời đại số”. Theo bà Nguyễn Thị Thủy, trong kỷ nguyên số, thúc đẩy bình đẳng giới không chỉ dừng lại ở việc tạo cơ hội tiếp cận công nghệ mà quan trọng hơn là thay đổi nhận thức để phụ nữ thực sự trở thành chủ thể của chuyển đổi số. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, đang mở ra nhiều cơ hội cho phụ nữ trong học tập, lao động và khởi nghiệp. Tuy nhiên, nếu không kịp thời trang bị kiến thức, kỹ năng và tạo điều kiện tiếp cận công bằng, phụ nữ, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi sẽ rất dễ bị tụt lại phía sau trong dòng chảy chuyển đổi số.
Từ thực tiễn Quảng Ninh, bà Nguyễn Thị Thủy, nhấn mạnh: Nâng cao năng lực số cho phụ nữ phải đi liền với khơi dậy sự tự tin, tinh thần chủ động và khát vọng vươn lên. Để phụ nữ thích ứng tốt với thời đại số, các cấp Hội trong tỉnh đang tập trung nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ, nhất là với phụ nữ ở vùng khó khăn; đổi mới cách tập hợp, kết nối hội viên trên nền tảng số; hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển kinh tế gắn với thương mại điện tử; đồng thời tăng cường kỹ năng tự bảo vệ cho phụ nữ, trẻ em trên không gian mạng… Qua đó tạo điều kiện để phụ nữ chủ động tham gia và khẳng định vai trò trong quá trình phát triển.