Sáng 15/12, tại Trung tâm Tổ chức hội nghị – Trụ sở Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, HĐND tỉnh khóa XIV khai mạc Kỳ họp thứ 34 (kỳ họp thường lệ cuối năm 2025) nhằm đánh giá kết quả phát triển KT-XH năm 2025, thảo luận phương hướng, nhiệm vụ năm 2026 và quyết nghị các nội dung thuộc thẩm quyền. Đồng chí Trịnh Thị Minh Thanh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, chủ tọa kỳ họp.
Sau phát biểu khai mạc của Chủ tọa và ý kiến chỉ đạo của đồng chí Quản Minh Cường, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh, kỳ họp bước vào phần nghe các báo cáo, tờ trình và dự thảo nghị quyết.
08:40 ngày 15/12/2025
“Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 11,89%”
Thay mặt UBND tỉnh, đồng chí Bùi Văn Khắng, Chủ tịch UBND tỉnh, trình bày báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội và công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh năm 2025, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026. Năm 2025 trước những khó khăn, thách thức và thuận lợi đan xen, tỉnh Quảng Ninh đã triển khai đồng bộ các giải pháp và đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2025 ước đạt khoảng 11,89%, trong đó khu vực nông, lâm, thủy sản đạt 3,85%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 10,58%; khu vực dịch vụ đạt 16,40%; thuế sản phẩm đạt 6,31%.
Quy mô nền kinh tế ước đạt 368.445 tỷ đồng, đứng thứ 7/34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Cơ cấu kinh tế đến hết năm 2025 khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm 4,63%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 46,18%; khu vực dịch vụ và thuế sản phẩm chiếm 49,19%. GRDP bình quân đầu người ước đạt 10.402 USD; năng suất lao động xã hội đạt 539 triệu đồng/người, tăng 11,9%.
Tổng khách du lịch ước đạt 21,28 triệu lượt, tăng 12% so với cùng kỳ 2024, tổng doanh thu du lịch đạt trên 57.000 tỷ đồng, tăng 22,46% so với cùng kỳ, tăng trưởng ngành dịch vụ đóng góp trên 50% vào tăng trưởng GRDP.
Tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh ước đạt 82.235 tỷ đồng, bằng 149% dự toán Trung ương giao, bằng 143% dự toán tỉnh giao, tăng 53% so với cùng kỳ, vượt 43% kế hoạch. Trong đó thu nội địa ước đạt 64.435 tỷ đồng, bằng 172% dự toán Trung ương giao và bằng 163% dự toán tỉnh giao, tăng 82% so với cùng kỳ.
Tổng vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt 475.858 tỷ đồng, gấp 15,8 lần so với năm 2024. Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) ước đạt khoảng 1 tỷ USD. An sinh xã hội được quan tâm, QP-AN được giữ vững.
Bám sát mục tiêu Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 9/12/2025 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh phấn đấu trong năm 2026 sẽ đạt cao nhất những chỉ tiêu mà nghị quyết đề ra, trong đó phấn đấu GRDP đạt trên 12,5%; GRDP bình quân đầu người đạt từ 11.800 USD trở lên; tổng thu ngân sách trên địa bàn vượt dự toán Trung ương giao; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt trên 14%; tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt trên 12%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng từ 12,5%-13%...
08:50 ngày 15/12/2025
Đồng chí Nguyễn Chí Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ninh: “Triển khai đồng bộ các cuộc vận động, các phong trào thi đua, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025"
Trình bày tóm tắt kết quả công tác tham gia xây dựng chính quyền, phản ánh tình hình nhân dân và những vấn đề cử tri, nhân dân trong tỉnh quan tâm, kiến nghị gửi tới kỳ họp, đồng chí Nguyễn Chí Thành, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ tỉnh, nhấn mạnh: Năm 2025, Ủy ban MTTQ tỉnh đã tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, tạo sự đồng thuận trong thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, của tỉnh để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Đồng thời triển khai đồng bộ, có hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, góp phần tạo khí thế sôi nổi trong nhân dân. Nổi bật như: Làm sạch trên 5.000km đường; hỗ trợ trên 5.800 lượt người thao tác dịch vụ công trực tuyến; huy động, tiếp nhận gần 127.000 suất quà trị giá trên 87 tỷ đồng tặng hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn với mục tiêu “mọi nhà, mọi người có Tết - không để ai bị bỏ lại phía sau"; phối hợp với UBND tỉnh triển khai và hoàn thành xóa 100% nhà tạm, nhà dột nát mới phát sinh trên địa bàn tỉnh; đồng thời đã triển khai hỗ trợ, xây mới và sửa chữa 137 nhà ở, 69 nhà tiêu hợp vệ sinh với tổng kinh phí hơn 4,5 tỷ đồng.
Công tác cứu trợ, cứu nạn được quan tâm triển khai kịp thời, hiệu quả trong việc hỗ trợ nhân dân bị thiệt hại do cơn bão Yagi gây ra năm 2024 với số tiền phân bổ trên 144 tỷ đồng và 100% hiện vật nhận được; phân bổ gần 89 tỷ đồng hỗ trợ cho các tỉnh, thành phố và các hộ dân trên địa bàn tỉnh bị thiệt hại do bão, lũ, thiên tai gây ra, trong đó trực tiếp hỗ trợ tỉnh Lâm Đồng theo sự phân công của Bộ Chính trị; tổ chức rất thành công Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc đồng loạt tại 100% thôn, khu trên toàn tỉnh vào ngày 16/11/2025…
Ủy ban MTTQ tỉnh cũng phát huy chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; thực hiện tốt hoạt động giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Qua đó, góp phần quảng bá nâng cao vị thế hình ảnh Quảng Ninh cũng như thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025.
Về ý kiến phản ánh tâm tư nguyện vọng, kiến nghị, cử tri và nhân dân trong tỉnh ghi nhận và đánh giá cao Thường trực HĐND, UBND tỉnh đã rất sâu sát, quyết liệt, nghiêm túc, trách nhiệm trong giám sát và trong chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền để tập trung giải quyết dứt điểm các ý kiến kiến nghị cử tri và nhân dân đã phản ánh tại các kỳ họp của HĐND tỉnh.
Qua nắm tình hình dư luận xã hội và phản ánh của các tổ chức thành viên, các cơ quan truyền thông, Ủy ban MTTQ tỉnh tổng hợp phản ánh các nhóm vấn đề mà cử tri và nhân dân quan tâm gửi đến kỳ họp thường lệ cuối năm 2025 xem xét như: Các cấp chính quyền tăng cường công tác quản lý, giám sát các hoạt động khai thác khoáng sản và sử dụng đất đai, đảm bảo khai thác hợp pháp, bền vững, bảo vệ môi trường và cảnh quan; tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn tạo sự đồng bộ trong sắp xếp và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số; thống nhất về mô hình tổ chức, bộ máy và bố trí nguồn lực, có cơ chế chính sách cụ thể đối với người làm việc và các hoạt động của Hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp xã; nâng mức hỗ trợ hoạt động tại thôn, khu phố.
Cử tri và nhân dân cũng kiến nghị nhiều nội dung liên quan đến chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác giáo dục và đào tạo, quốc phòng an ninh trật tự, giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai.
09:05 ngày 15/12/2025
Đồng chí Phạm Viết Vượng, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh trình bày báo cáo kết quả công tác của ngành Kiểm sát Quảng Ninh năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.
Năm 2025, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; tội phạm giảm về số vụ nhưng diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nổi lên các tội phạm về kinh tế, tham nhũng, ma túy, tội phạm công nghệ cao và xâm hại trẻ em. Các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố hơn 1.200 vụ án hình sự với gần 3.000 bị can; số vụ tranh chấp dân sự tăng, khiếu kiện hành chính giảm.
Trước tình hình đó, Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp trên địa bàn tỉnh đã thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo đảm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để xảy ra oan, sai và bỏ lọt tội phạm. Tỷ lệ giải quyết nguồn tin về tội phạm, truy tố đúng hạn, đúng tội danh đều đạt và vượt chỉ tiêu Quốc hội giao. Công tác kiểm sát xét xử, thi hành án được tăng cường; chú trọng thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế.
Ngành Kiểm sát Quảng Ninh cũng đã hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy theo mô hình Viện kiểm sát khu vực từ ngày 1/7/2025; đẩy mạnh chuyển đổi số, số hóa hồ sơ, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ; tăng cường phối hợp với cấp ủy, chính quyền và các cơ quan tư pháp trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật.
Năm 2026, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng công tác công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ thí điểm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ lợi ích công và nhóm yếu thế, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, góp phần giữ vững kỷ cương pháp luật và phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
09:15 ngày 15/12/2025
Trình bày báo cáo tại Kỳ họp, đồng chí Nguyễn Xuân Thiện, Chánh án TAND tỉnh cho biết: Bộ máy tổ chức của TAND hai cấp tỉnh Quảng Ninh được kiện toàn, vận hành hiệu quả. Các vụ án, vụ việc được tiếp nhận, giải quyết và xét xử đúng thời hạn, đúng thẩm quyền, đảm bảo chất lượng.
Năm 2025 là năm đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là sự thay đổi lớn về tổ chức bộ máy và cơ cấu ngành. TAND tỉnh Quảng Ninh đã chủ động sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, chính thức vận hành mô hình TAND hai cấp gồm TAND tỉnh và các TAND khu vực được thành lập trên cơ sở sắp xếp lại TAND cấp huyện trước đây.
Kết quả bước đầu cho thấy, bộ máy tổ chức của TAND hai cấp tỉnh Quảng Ninh được kiện toàn, vận hành hiệu quả. Các vụ án, vụ việc được tiếp nhận, giải quyết và xét xử đúng thời hạn, đúng thẩm quyền, đảm bảo chất lượng. Số vụ việc thụ lý là 6.349 vụ, việc (tăng 1.088 vụ, việc so với cùng kỳ) và đã giải quyết, xét xử 5.326 vụ, việc, đạt tỷ lệ giải quyết chung 83,9%.
Về án hình sự, TAND hai cấp đã giải quyết 1.328 vụ/3.076 bị cáo, đạt tỷ lệ 93,1% số vụ, với tỷ lệ các bản án bị hủy hoặc sửa do nguyên nhân chủ quan chỉ là 0,45%, nằm trong giới hạn quy định của nghị quyết Quốc hội. Tội phạm tham nhũng, chức vụ đã thụ lý 16 vụ/44 bị cáo và giải quyết, xét xử 14 vụ/35 bị cáo. Đối với án dân sự và các loại án khác, đã giải quyết 3.998 vụ, việc, đạt tỷ lệ 81,2%. Công tác hòa giải, đối thoại đạt tỷ lệ cao, với 1.554 vụ, việc hòa giải thành, đối thoại thành, đạt 39,6% trên tổng số vụ việc đã giải quyết.
TAND hai cấp đã đẩy mạnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số, tổ chức xét xử 70 phiên tòa trực tuyến, phối hợp thiết lập 1 điểm cầu phục vụ 31 phiên tòa xét xử phúc thẩm trực tuyến của TAND tối cao tại Hà Nội, và số hóa thành công 39.526 hồ sơ, hoàn thành sớm 28 ngày so với thời hạn quy định. 100% công chức có chức danh tư pháp đã sử dụng thành thạo phần mềm Trợ lý ảo, và đã công bố 4.264 bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trên cổng thông tin điện tử Tòa án…
Trong thời gian tới, TAND đặt mục tiêu quyết tâm nâng cao chất lượng và tiến độ giải quyết, xét xử các loại vụ việc, đảm bảo nguyên tắc không kết án oan người không phạm tội và không bỏ lọt người phạm tội. Trong đó, tập trung thực hiện công tác xét xử nghiêm minh, khách quan các vụ án tham nhũng, tiêu cực theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương; làm tốt công tác hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính. Tòa án đẩy mạnh cải cách tư pháp và chuyển đổi số bằng cách tổ chức tốt phiên tòa xét xử trực tuyến, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, vận hành hiệu quả phần mềm Trợ lý ảo; công khai bản án, quyết định để tăng cường minh bạch. Đồng thời, chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật công vụ, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức và Hội thẩm nhân dân; đẩy mạnh Phong trào thi đua "Vì công lý" và chủ đề xuyên suốt "Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư" với phương châm "Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân"…
Tại kỳ họp, TAND tỉnh kiến nghị các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật từ cơ sở; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân khi thực hiện giao dịch dân sự - thương mại có giá trị lớn; đề nghị TAND Tối cao nghiên cứu, xem xét ban hành hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết về trình tự thu thập và đánh giá chứng cứ trong các vụ phá sản; đề nghị các cơ quan chức năng hoàn thiện hành lang pháp lý quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ sau sáp nhập; đề nghị TAND Tối cao và UBND tỉnh quan tâm, xem xét bố trí kinh phí xây mới, sửa chữa, nâng cấp trụ sở TAND các khu vực.
09:27 ngày 15/12/2025
Đồng chí Phạm Hồng Biên, Giám đốc Sở Tài chính: Đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên 12%/năm
Trình bày Tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030, đồng chí Phạm Hồng Biên, Giám đốc Sở Tài chính nhấn mạnh: Việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 của tỉnh Quảng Ninh nhằm triển khai cụ thể hóa Chỉ thị số 31/CT-TTg (ngày 18/10/2025) của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030; Nghị quyết và Chương trình hành động số 01-CTr/TU (ngày 8/10/2025) của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Việc thông qua Nghị quyết về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 là cơ sở để UBND tỉnh chỉ đạo, điều hành các cấp, các ngành tổ chức triển khai thực hiện.
Về mục tiêu tổng quát và các chỉ tiêu chủ yếu, UBND tỉnh bám sát mục tiêu tổng quát và 20 chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội - môi trường tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Chương trình hành động số 01-CTr/TU của Tỉnh ủy để xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030 đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 12%/năm. Cụ thể:
Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt trên 16%/năm. Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GRDP đạt 25%. GRDP bình quân đầu người đạt trên 23.800 USD. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt 30%. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%. Phấn đấu thành lập mới đạt 2.650 doanh nghiệp/năm. Đóng góp của nền kinh tế tư nhân trong GRDP khoảng 50-55%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân đạt trên 16%/năm. Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân đạt 17-18%/năm. Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 75% và nâng cao chất lượng đô thị.
Về xã hội: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt trên 90%, trong đó đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 48%. Tỷ lệ thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp thành thị và tỷ lệ thất nghiệp nông thôn) dưới 2%. Đạt 68 giường bệnh/1 vạn dân (gồm 65 giường công lập/1 vạn dân và 3 giường tư nhân/1 vạn dân); 19 bác sĩ/1 vạn dân; 8 dược sĩ đại học/1 vạn dân; 33 điều dưỡng/1 vạn dân; tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 100%. Phấn đấu chỉ số phát triển con người (HDI) của tỉnh ở nhóm 5 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước; tuổi thọ trung bình người dân trên 76 tuổi. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt trên 95%. Toàn tỉnh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia.
Về môi trường: Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung đạt trên 99%; tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đạt trên 85%. Tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt đô thị và các xã đảo, các xã có hoạt động du lịch, dịch vụ bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 99% và tại các khu vực nông thôn đạt 90%. Tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải tại các khu đô thị tập trung đạt 100%. Tỷ lệ khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn xả thải ra môi trường đạt 100%. Tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 50% và nâng cao chất lượng rừng.
Dự thảo Nghị quyết đưa ra 6 nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu: Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả cạnh tranh nền kinh tế. Thực hiện hiệu quả 3 đột phá chiến lược: Phát triển văn hóa, con người, xây dựng nền văn hóa giàu bản sắc Quảng Ninh; tăng cường quản lý xã hội bền vững; bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; nâng cao chất lượng đời sống và hạnh phúc nhân dân. Quản lý, sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, và bảo vệ môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai. Tăng cường QP-AN; chủ động tích cực hội nhập quốc tế. Xây dựng chính quyền liêm chính, phục vụ, kiến tạo, phát triển, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
09:30 ngày 15/12/2025
Đồng chí Phạm Hồng Biên, Giám đốc Sở Tài chính: Đảm bảo nguyên tắc, tiêu chí, phân bổ ngân sách nhà nước
Trình bày tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương; nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách địa phương năm 2026, đồng chí Phạm Hồng Biên, Giám đốc Sở Tài chính cho biết:
Dự thảo Nghị quyết được xây dựng trên cơ sở kế thừa nội dung, quy định các nghị quyết của HĐND tỉnh đã ban hành trong thời kỳ ổn định ngân sách 2022-2025; Nghị quyết số 74/NQ-HĐND (ngày 17/10/2025) của HĐND tỉnh, có một số điểm mới, điểm thay đổi so với năm 2025 như sau: Nguồn thu tiền sử dụng đất, tiền thuê mặt đất, mặt nước được điều tiết về ngân sách Trung ương 20% theo quy định của Luật NSNN năm 2025, ngân sách địa phương được hưởng 80%, các sắc thu khác ổn định như dự toán năm 2025; phân cấp nguồn thu ngân sách cho cấp xã; phân cấp nhiệm vụ chi; bổ sung quy định nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư công nguồn ngân sách địa phương; quy định về định mức phân bổ dự toán...
09:35 ngày 15/12/2025
Phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước năm 2026 trên địa bàn tỉnh đạt 74.000 tỷ đồng
Tại tờ trình dự thảo Nghị quyết về dự toán thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách địa phương, phân bổ dự toán chi ngân sách cấp tỉnh và cơ chế, biện pháp điều hành ngân sách địa phương năm 2026, đối với phương án giao dự toán ngân sách năm 2026, tỉnh phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước năm 2026 trên địa bàn: 74.000 tỷ đồng, bao gồm: Thu từ hoạt động XNK là 17.500 tỷ đồng; thu nội địa là 56.500 tỷ đồng. Chi ngân sách địa phương là 43.210 tỷ đồng, trong đó: Chi đầu tư công là 20.543 tỷ đồng; chi thường xuyên là 20.459 tỷ đồng; chi trả nợ gốc là 45 tỷ đồng; chi từ nguồn ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu là 909 tỷ đồng; chi tạo nguồn cải cách tiền lương là 398 tỷ đồng. Chi bổ sung cân đối từ ngân sách cấp tỉnh cho ngân sách cấp xã là 5.253 tỷ đồng.
Đối với cơ chế, biện pháp điều hành dự toán, tiếp tục thực hiện các giải pháp thu hiệu quả, hoàn thành cao nhất dự toán được HĐND tỉnh giao, trong điều hành phấn đấu thu ngân sách nhà nước tăng ít nhất 10% so với thực hiện năm 2025, đảm bảo cân đối ngân sách địa phương. Đồng thời, đôn đốc thu hồi các khoản nợ đọng thuế, giảm tỷ lệ nợ đọng thuế dưới 8% trên tổng thu nội địa.
Kinh phí thực hiện một số chính sách, chế độ mới được Trung ương, HĐND tỉnh ban hành trong năm do ngân sách cấp tỉnh đảm bảo, được thực hiện bổ sung có mục tiêu cho các địa phương theo quy định tại khoản 2 Điều 43 Luật NSNN năm 2025.
Thực hiện tiết kiệm 5% dự toán chi đầu tư phát triển khi phân bổ giao dự toán đầu năm để bổ sung nguồn đầu tư công trình đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng theo chỉ đạo của Trung ương. Thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên trong quá trình điều hành ngân sách để tạo nguồn cải cách tiền lương và tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên (ngoài tiết kiệm tạo nguồn cải cách tiền lương) để bổ sung nguồn chi an sinh xã hội.
Trong khi chờ trung ương quyết định phân loại đơn vị hành chính cho 54 địa phương, thống nhất tạm tính định mức phân bổ chi thường xuyên của các địa phương theo nhóm đơn vị hành chính loại III. Cùng với đó, giao UBND tỉnh căn cứ quyết định phân loại đơn vị hành chính của cấp có thẩm quyền để rà soát, cân đối và cấp bổ sung phần kinh phí chênh lệch cho các xã, phường, thị trấn theo đúng quy định hiện hành.
09:37 ngày 15/12/2025
Đối với Tờ trình dự thảo Nghị quyết đề nghị HĐND tỉnh cho ý kiến về việc ban hành quy định mức tỷ lệ (%) để tính đơn giá thuê đất, mức tỷ lệ (%) thu đối với đất xây dựng công trình ngầm, mức tỷ lệ (%) thu đối với đất có mặt nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Giám đốc Sở Tài chính trình bày rõ sự cần thiết việc ban hành Nghị quyết nhằm đảm bảo thực hiện đồng bộ từ ngày 01/01/2026, khi Bảng giá đất mới theo Luật Đất đai năm 2024 được áp dụng.
Tờ trình chi tiết quá trình xây dựng dự thảo, căn cứ pháp lý, và lý do duy trì mức tỷ lệ phần trăm hiện tại như: Quy định mức tỷ lệ phần trăm tính đơn giá thuê đất một năm trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh là 1‰. Mức này được đánh giá là mức vừa phải (thấp hơn mức trung bình quy định tại Nghị định).
Trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền một lần cho cả thời gian thuê, đơn giá thuê đất được tính theo mức bằng 30% của đơn giá thuê đất trên bề mặt với hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc trả tiền một lần có cùng mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất.
Đối với phần diện tích đất có mặt nước, đơn giá thuê đất (trả tiền hàng năm hoặc trả tiền một lần) được tính theo mức bằng 50% của đơn giá thuê đất hàng năm hoặc đơn giá thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê của loại đất có vị trí liền kề với giá đất có cùng mục đích sử dụng và thời hạn sử dụng đất.
Thời gian thực hiện áp dụng các quy định nêu trên là kể từ ngày 1/1/2026.
09:42 ngày 15/12/2025
Đồng chí Phạm Hồng Biên, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh trình bày tóm tắt Tờ trình dự thảo Nghị quyết Quy định nội dung, mức chi hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026 – 2031.
Trong đó nhấn mạnh, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước và từng địa phương; được tổ chức vào ngày Chủ nhật, ngày 15/3/2026. Đây là cuộc vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng của mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh và cả nước để lựa chọn, bầu những đại biểu ưu tú, đại diện cho nhân dân cả nước tại Quốc hội và các đại biểu đại diện cho nhân dân địa phương tại HĐND cấp tỉnh, cấp xã trong nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 87/2025/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 có hiệu lực kể từ ngày 29/8/2025 quy định: “Đối với các nội dung chi quy định tại Điều 3 Thông tư này: Căn cứ mức chi quy định tại Điều 4 Thông tư này và mức kinh phí phục vụ cho công tác bầu cử do ngân sách trung ương bổ sung, căn cứ tình hình thực tế tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương, sau khi thống nhất với Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban bầu cử cấp tỉnh), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp hoặc quyết định (trong trường hợp được HĐND giao) mức chi, thời gian được hưởng hỗ trợ cụ thể tại địa phương".
Do đó, cần thiết phải ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh “Quy định nội dung, mức chi hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026-2031" đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành của nhà nước, khả năng cân đối ngân sách địa phương nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, Luật Ngân sách nhà nước, chủ trương của Đảng và Nhà nước về thực hành tiết kiệm chống lãng phí và phân cấp của Bộ Tài chính cho HĐND tỉnh. Đồng thời cụ thể hóa nội dung, mức chi, thời gian được hưởng hỗ trợ kinh phí phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 theo quy định tại Thông tư số 87/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính; tạo hành lang pháp lý để giao dự toán, thanh quyết toán kinh phí theo quy định hiện hành của Nhà nước; đảm bảo việc thực hiện chế độ, chính sách cho các đối tượng thụ hưởng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến sử dụng nguồn kinh phí phục vụ công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026-2031 được kịp thời, đầy đủ.
Dự thảo Nghị quyết được bố cục gồm 3 Điều và Quy định kèm theo. Điều 1: Ban hành kèm theo Nghị quyết này Quy định nội dung, mức chi hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026 - 2031. Điều 2: Tổ chức thi hành và Điều 3: Hiệu lực thi hành.
Dự thảo nghị quyết quy định mức chi hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026 – 2031: Đối với cấp tỉnh, mức chi bằng mức chi của Trung ương quy định tại Thông tư số 87/2025/TT-BTC ngày 29/8/2025 của Bộ Tài chính. Đối với cấp xã, mức chi bằng 70% mức chi tại cấp tỉnh. Các nội dung chi khác không quy định tại Nghị quyết này thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành, thanh toán theo thực tế, chứng từ chỉ hợp pháp, hợp lệ trên cơ sở dự toán đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Dự thảo Nghị quyết cũng quy định rõ nguyên tắc hưởng các mức bồi dưỡng, hỗ trợ. Trong đó, một người thuộc diện từ 2 chức danh trở lên thì chỉ được hưởng 1 mức bồi dưỡng, hỗ trợ quy định cho chức danh có mức bồi dưỡng, hỗ trợ cao nhất; những người có tên trong danh sách kèm theo Quyết định thành lập các tổ chức phục vụ bầu cử hoặc huy động, trưng dụng phục vụ bầu cử của cơ quan/cá nhân có thẩm quyền. Thời gian hỗ trợ được tính theo thực tế, kể từ ngày Quyết định thành lập Tổ chức bầu cử, Quyết định huy động, trưng dụng của cơ quan/cá nhân có thẩm quyền nhưng không quá 3 tháng đối với những người thuộc các chức danh của Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, cấp xã và những người là cán bộ, công chức trong các cơ quan: Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ninh, Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Sở Nội vụ. Tại cấp xã là những người thuộc: Văn phòng HĐND và UBND, Ủy ban MTTQ xã và các cơ quan, phòng ban chuyên môn cấp xã được phân công giúp việc cho Ủy ban bầu cử cấp xã. Và không quá 2 tháng đối với những người thuộc các chức danh của Ban bầu cử Quốc hội, Ban bầu cử đại biểu HĐND cấp tỉnh, cấp xã và các Tổ bầu cử. Không quá 15 ngày đối với những người trưng dụng, huy động khác theo quyết định của cơ quan/cá nhân có thẩm quyền.
Kinh phí thực hiện lấy từ nguồn kinh phí phục vụ cho bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành, bao gồm: Nguồn kinh phí phục vụ bầu cử đã bố trí trong dự toán ngân sách cấp tỉnh, cấp xã và kinh phí phục vụ bầu cử do ngân sách Trung ương phân bổ (nếu có). Mức chi cụ thể: Đối với cấp tỉnh đề xuất mức chi bằng mức chi của Trung ương quy định tại Thông tư số 87/2025/TT-BTC ngày 29/8/2025 của Bộ Tài chính. Đối với cấp xã bằng 70% mức chi tại cấp tỉnh, riêng mức chi công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử; mức chi bồi dưỡng 2 ngày (trước ngày bầu cử và ngày bầu cử) bằng với mức trung ương quy định. Dự kiến kinh phí thực hiện khoảng từ 180 - 200 tỷ đồng.
09:45 ngày 15/12/2025
Đồng chí Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường: Quy định bảng giá các loại đất áp dụng từ ngày 1/1/2026
Trình bày Tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định Bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 01/01/2026 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đồng chí Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, cho biết: Thực hiện quy định của Luật Đất đai năm 2024, UBND tỉnh đã trình HĐND tỉnh ban hành bảng giá đất lần đầu để áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn tỉnh theo thẩm quyền.
Việc xây dựng bảng giá đất lần đầu là nội dung đặc biệt quan trọng của tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện từ rất sớm (ngay từ đầu năm 2025 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 855/QĐ-UBND ngày 21/3/2025 phê duyệt Kế hoạch xây dựng bảng giá đất lần đầu quy định cụ thể về tiến độ, trách nhiệm của các cơ quan trong việc xây dựng bảng giá đất). Quá trình xây dựng dự thảo Nghị quyết đã tuân thủ theo đúng phương pháp, trình tự, thủ tục pháp luật; bảo đảm trung thực, khách quan, công khai, minh bạch; hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật Đất đai; Nghị định số 71/2024/NĐ-CP ngày 27/6/2024, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 của Chính phủ.
Việc thực hiện trình tự thủ tục xây dựng dự thảo bảng giá đất và dự thảo Nghị quyết ban hành bảng giá đất lần đầu đã được tổ chức thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Nghị quyết ban hành bảng giá đất của HĐND tỉnh quy định 3 nội dung: (1) Quy định tiêu chí cụ thể xác định vị trí đối với từng loại đất, số lượng vị trí đất trong bảng giá đất; (2) Quy định việc xác định giá đất đối với một số trường hợp cụ thể trong bảng giá đất; (3) Quy định bảng giá các loại đất áp dụng từ ngày 01/01/2026 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Trình bày Tờ trình dự thảo Nghị quyết về việc ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đợt 5 năm 2025; điều chỉnh tên dự án, khu đất thực hiện dự án đã được HĐND tỉnh ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: UBND tỉnh đề nghị HĐND tỉnh xem xét ban hành danh mục 1 khu đất thuộc phường Vành Danh, có diện tích 0,94ha thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai (thuộc trường hợp phải tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của pháp luật quản lý ngành, lĩnh vực). Đồng thời, HĐND tỉnh thông qua điều chỉnh tên dự án, khu đất thực hiện dự án của 3 khu đất tại phường Móng Cái 1, phường Cao Xanh, phường Mạo Khê đã được HĐND tỉnh ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất tại Nghị quyết số 266/NQ-HĐND ngày 28/4/2025 và Nghị quyết số 301/NQ-HĐND ngày 11/9/2025.
Đối với Tờ trình của UBND tỉnh về việc hủy bỏ danh mục các công trình, dự án đã được HĐND tỉnh thông qua danh mục dự án phải thu hồi đất, danh mục dự án chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa. Theo đó, hủy bỏ 1 công trình, dự án đã được HĐND tỉnh thông qua danh mục thu hồi đất tại Nghị quyết 60/NQ-HĐND ngày 9/12/2021 và thông qua điều chỉnh diện tích dự án, diện tích các loại đất thu hồi tại Nghị quyết số 156/NQ-HĐND ngày 12/7/2023; Hủy bỏ danh mục 1 công trình, dự án đã được HĐND tỉnh thông qua nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa tại Nghị quyết số 86/NQ-HĐND ngày 31/3/2022.
Đối với Tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định một số mức chi sự nghiệp bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị quyết phù hợp với các Thông tư của Bộ Tài chính và Nghị quyết hiện hành của HĐND tỉnh về phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách. Phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết là quy định một số mức chi sự nghiệp bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh do NSNN tỉnh Quảng Ninh đảm bảo theo phân cấp quản lý hiện hành. Đối tượng áp dụng là các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan đến việc sử dụng và quản lý kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Dự thảo Nghị quyết được bố cục gồm 4 Điều: Phạm vi điều chỉnh, Đối tượng áp dụng, một số mức chi sự nghiệp bảo vệ môi trường, tổ chức thực hiện và Hiệu lực thi hành. Nghị quyết quy định một số mức chi từ nguồn sự nghiệp bảo vệ môi trường do ngân sách nhà nước đảm bảo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Nội dung chi bao gồm các nhiệm vụ chi theo quy định của Thông tư 02/2017/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung) như: Lập nhiệm vụ, dự án; Họp hội đồng xét duyệt; Lấy ý kiến thẩm định bằng văn bản; Điều tra, khảo sát; Báo cáo tổng kết; Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược; Hội thảo khoa học; Hội đồng nghiệm thu; Hợp đồng lao động hỗ trợ công tác bảo vệ môi trường cấp xã; Chi giải thưởng môi trường. Nguồn lực tài chính dự kiến do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành.
09:53 ngày 15/12/2025
"Mở rộng chính sách trợ giúp xã hội, hỗ trợ BHYT và quy định giá dịch vụ khám chữa bệnh để chăm lo tốt nhất cho hạnh phúc, sức khoẻ nhân dân"
Đồng chí Nguyễn Trọng Diện, Giám đốc Sở Y tế, trình bày tóm tắt Tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026-2030.
Thực hiện quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và Nghị định số 76/2024/NĐ-CP của Chính phủ, HĐND tỉnh đã ban hành 3 nghị quyết chuyên đề về hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó, mức chuẩn trợ giúp xã hội hằng tháng của tỉnh được thực hiện cao hơn mức chuẩn của Trung ương và mở rộng thêm đối tượng được thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội so với Trung ương. Tính đến tháng 10/2025, toàn tỉnh có trên 31.600 người đang hưởng trợ giúp xã hội hằng tháng tại cộng đồng theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP, Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND; trong đó, 30.498 người đang hưởng theo chính sách của Trung ương, 1.120 người đang hưởng theo chính sách của tỉnh; gần 22.000 người đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội theo Nghị định số 176/2025/NĐ-CP, Nghị quyết số 65/2025/NQ-HĐND từ ngày 01/7/2025; 180 người đang được nuôi dưỡng trong Cơ sở Trợ giúp xã hội công lập của tỉnh.
Tuy nhiên, đến nay một số nội dung quy định tại Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND, Nghị quyết số 43/2024/NQ-HĐND không còn phù hợp với các quy định của Trung ương và tình hình thực tiễn.
Từ các cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn trên và các giải pháp về xây dựng hệ thống an sinh xã hội bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, không để ai bị bỏ lại phía sau đã được chỉ đạo tại Chương trình hành động số 37-Ctr/TU ngày 02/4/2024 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Đồng thời, nâng dần chất lượng cuộc sống của nhân dân với mục tiêu “Nhân dân hạnh phúc”, mỗi người dân Quảng Ninh đều được thụ hưởng thành quả của sự phát triển của tỉnh. Vì vậy, việc ban hành Nghị quyết của HĐND tỉnh "Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh" trên cơ sở tích hợp 3 nghị quyết: Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND, Nghị quyết số 43/2024/NQ-HĐND và bổ sung, mở rộng thêm đối tượng thụ hưởng chính sách, điều chỉnh, nâng mức hỗ trợ một số chính sách là cần thiết, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh.
Nghị quyết được xây dựng nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Quảng Ninh về trợ giúp xã hội, bảo đảm quyền an sinh cho đối tượng thụ hưởng, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống mọi mặt của nhân dân theo tiêu chí “Hạnh phúc”. Đồng thời kế thừa những chính sách hiện hành và bổ sung một số đối tượng có hoàn cảnh khó khăn phù hợp với tình hình thực tế, khả năng cân đối ngân sách của tỉnh; giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, tăng cường được tiếp cận các dịch vụ xã hội của đối tượng bảo trợ xã hội; bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội cho nhân dân góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng con người Quảng Ninh toàn diện.
Dự thảo Nghị quyết gồm 5 chương, 12 điều, trong đó có một số nội dung cơ bản như: Giữ nguyên và tích hợp mức chuẩn trợ giúp xã hội, một số nhóm đối tượng, nội dung chính sách, mức hỗ trợ của Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND, Nghị quyết số 43/2024/NQ-HĐND, gồm các nội dung chính: Mức chuẩn trợ giúp xã hội; nhóm đối tượng trẻ em dưới 16 tuổi, người có hoàn cảnh khó khăn, một số người cao tuổi; các đối tượng quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP; chính sách trợ cấp xã hội hằng tháng; chính sách hỗ trợ chi phí khám, chữa bệnh; chính sách hỗ trợ chi phí điều trị người bị thương nặng; chính sách hỗ trợ chi phí mai táng; chính sách hỗ trợ nhà ở; hỗ trợ lương thực; mức trợ cấp vật dụng phục vụ sinh hoạt thường ngày cho đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội; mức trợ cấp đặc thù khác cho người nhiễm HIV/AIDS, chi phí mai táng khi chết cho đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội của tỉnh; mức chi phí chi trả dịch vụ chi trả và định mức chi cho công tác quản lý chính sách trợ giúp xã hội ở cấp tỉnh.
Đồng thời, bổ sung đối tượng tại cộng đồng và đối tượng được chăm sóc, nuôi dưỡng tại Cơ sở trợ giúp xã hội Quảng Ninh; điều chỉnh đối tượng, điều kiện hỗ trợ; nội dung hỗ trợ; nâng mức hỗ trợ của Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND để phù hợp, tương đồng với quy định của Chính phủ, thực tế với điều kiện của tỉnh. Cụ thể: Mở rộng đối tượng, điều kiện hỗ trợ; nâng mức hỗ trợ tiền ăn và bổ sung chi phí đi lại hỗ trợ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em, mức hỗ trợ người bị thương nặng, hỗ trợ chi phí mai táng, nâng mức hỗ trợ làm nhà ở, di dời, sửa chữa nhà ở. Nghị quyết cũng điều chỉnh nội dung hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ học phí và hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế sang Nghị quyết khác; điều chỉnh thẩm quyền và một số nội dung để phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp. Dự thảo Nghị quyết cũng bỏ một số nội dung, chính sách quy định tại Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND không còn phù hợp.
Về nguồn lực, điều kiện đảm bảo cho việc thi hành chính sách do ngân sách địa phương đảm bảo theo phân cấp ngân sách hiện hành. Dự kiến tổng kinh phí thực hiện Nghị quyết trong 1 năm khoảng 269,307 tỷ đồng, trong đó: Kinh phí đang thực hiện Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND và Nghị quyết số 43/2024/NQ-HĐND trong 1 năm khoảng 253,9 tỷ đồng; kinh phí tăng thêm do mở rộng, bổ sung, điều chỉnh đối tượng, chính sách của Nghị quyết này khoảng 15,407 tỷ đồng.
Về Tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho một số nhóm đối tượng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2026-2030: Tiếp tục duy trì chính sách tại Nghị quyết số 35/2024/NQ-HĐND về hỗ trợ thêm 30% mức đóng BHYT cho người thuộc hộ gia đình cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của Chính phủ (Chính phủ đã hỗ trợ 70%); hỗ trợ thêm 50% mức đóng BHYT cho người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình theo quy định của pháp luật (Chính phủ đã hỗ trợ 30%). Tiếp tục duy trì chính sách tại Nghị quyết số 16/2021/NQ-HĐND: Hỗ trợ 100% đóng BHYT cho người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các xã, phường, đặc khu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Tích hợp các đối tượng đang được hỗ trợ 100% mức đóng bảo hiểm y tế quy định tại Nghị quyết số 21/2021/NQ-HĐND, Nghị quyết số 08/2022/NQ-HĐND tỉnh, gồm: Người đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định của tỉnh; Người từ đủ 70 tuổi trở lên chưa có thẻ BHYT.
Đề xuất nhóm đối tượng mới: Người thuộc hộ gia đình thoát nghèo đồng thời thoát cận nghèo theo quyết định công nhận của cơ quan hoặc người có thẩm quyền sẽ được hỗ trợ 50% mức đóng BHYT, thời gian hỗ trợ 60 tháng kể từ tháng được cơ quan hoặc người có thẩm quyền công nhận thoát nghèo. Người cao tuổi theo quy định pháp luật đến dưới 70 tuổi chưa có thẻ bảo hiểm y tế hỗ trợ 100% mức đóng BHYT.
Dự kiến tổng kinh phí thực hiện trên 292 tỷ đồng/năm.
Tóm tắt tờ trình dự thảo Nghị quyết về việc quy định giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc danh mục do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán; giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do ngân sách nhà nước thanh toán; giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc danh mục do quỹ BHYT thanh toán mà không phải là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc tỉnh Quảng Ninh quản lý, nêu:
Giá dịch vụ khám bệnh hội chẩn: 19 dịch vụ kỹ thuật; giá dịch vụ ngày giường: 28 dịch vụ; giá dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm quy định: 9.155 dịch vụ kỹ thuật; giá dịch vụ kỹ thuật thực hiện bằng phương pháp vô cảm gây tê chưa gồm chi phí thuốc và oxy sử dụng cho dịch vụ theo quy định là 761 dịch vụ kỹ thuật.
Đối tượng áp dụng: Các cơ sở khám chữa bệnh của nhà nước trên địa bàn tỉnh; người bệnh tham gia BHYT đến khám, chữa bệnh và người bệnh sử dụng các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (nhưng không phải là khám bệnh theo yêu cầu) tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của nhà nước trên địa bàn tỉnh; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Không áp dụng đối với các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp: Dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của đơn vị để đáp ứng nhu cầu của xã hội theo quy định của pháp luật có liên quan theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 60/NĐ-CP ngày 21/6/2021 và Nghị định số 111/NĐ-CP ngày 22/5/2025 của Chính phủ; cơ sở khám, chữa bệnh hoạt động theo mô hình doanh nghiệp do đơn vị sự nghiệp công vay vốn để đầu tư, hợp tác đầu tư theo Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 15/12/2014 của Chính phủ; cơ sở khám, chữa bệnh đầu tư theo hình thức đối tác công tư theo quy định của Chính phủ.
10:10 ngày 15/12/2025
“Dành trên 400 tỷ đồng/năm học, hỗ trợ cho trên 340.000 lượt trẻ em, học sinh, học viên/năm học"
Trình bày tờ trình, dự thảo Nghị quyết quy định một số chính sách hỗ trợ trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ năm học 2025-2026 đến năm học 2030-2031, đồng chí Nguyễn Thị Thúy, Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh, cho biết: Trong thời gian qua, các Nghị quyết số 204/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019, số 248/2020/NQ-HĐND ngày 31/3/2020 và số 22/2023/NQ-HĐND ngày 31/10/2023 của HĐND tỉnh đã quy định hệ thống chính sách hỗ trợ giáo dục toàn diện, thiết thực, phát huy hiệu quả rõ rệt, nhất là tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo. Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, một số nội dung, mức hỗ trợ và đối tượng thụ hưởng của các Nghị quyết trên đã không còn phù hợp với quy định mới của Trung ương, với đơn vị hành chính mới và chưa bao phủ đầy đủ nhóm đối tượng cần được ưu tiên hỗ trợ hiện nay.
Việc ban hành Nghị quyết mới để kế thừa, cập nhật và hoàn thiện hệ thống chính sách, thay thế các nghị quyết trước đây, là cần thiết, phù hợp với chủ trương, định hướng chung về phát triển giáo dục và an sinh xã hội đã được triển khai ổn định trong thời gian qua. Đồng thời góp phần cụ thể hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động số 03-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong giai đoạn hiện nay. Qua đó củng cố bền vững kết quả phổ cập giáo dục, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nguồn nhân lực và phát triển bền vững của tỉnh trong giai đoạn tới.
Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã hoàn thiện hồ sơ, trình HĐND tỉnh xem xét, quyết nghị theo thẩm quyền, ban hành Nghị quyết quy định một số chính sách hỗ trợ trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ năm học 2025-2026 đến năm học 2030-2031.
Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị quyết quy định 7 nhóm chính sách hỗ trợ trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh, gồm:
1. Cấp miễn phí 1 bộ sách giáo khoa/năm học cho học sinh phổ thông và học viên chương trình giáo dục thường xuyên cấp THPT từ năm học 2026-2027.
2. Hỗ trợ 360.000 đồng/trẻ/tháng tiền ăn trưa cho trẻ em mầm non thường trú ở xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc ở xã đảo; đang hưởng bảo trợ xã hội hằng tháng; thuộc hộ nghèo, cận nghèo; là người khuyết tật; con liệt sĩ, con Anh hùng LLVT Nhân dân, con thương binh, con đối tượng chính sách khác theo quy định; có cha hoặc mẹ bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp được hưởng trợ cấp thường xuyên (gọi chung là đối tượng yếu thế và ưu tiên); hỗ trợ cơ sở giáo dục kinh phí nhân viên nấu ăn theo định mức 4.680.000 đồng/45 trẻ/tháng, 5 điểm trường/1 định mức; kinh phí dạy hè 1.125.000 đồng/ngày/30 trẻ mẫu giáo hoặc 20 trẻ nhà trẻ, cùng chi phí điện, nước theo định mức.
3. Hỗ trợ tiền ăn trưa 400.000 đồng/tháng cho học sinh tiểu học tại trường thường trú tại thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc xã đảo, các đối tượng yếu thế và ưu tiên; hỗ trợ cơ sở giáo dục kinh phí phục vụ nấu ăn theo định mức 2.340.000 đồng/tháng/35 học sinh, 5 điểm trường/1 định mức; kinh phí quản lý học sinh theo định mức như kinh phí phục vụ nấu ăn, cùng chi phí điện, nước theo định mức.
4. Hỗ trợ học sinh, học viên thường trú ở trên địa bàn xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc xã đảo, nhà xa trường (từ 4km trở lên đối với tiểu học, 7km trở lên đối với THCS và 10km trở lên đối với THPT hoặc phải đi học qua địa hình cách trở, giao thông đi lại khó khăn, không thể tự đi đến trường và trở về nhà trong ngày) 936.000 đồng/người/tháng khi ăn, ở tập trung, kinh phí phục vụ nấu ăn theo định mức 2.340.000 đồng/tháng/15 học sinh, kinh phí quản lý học sinh và điện, nước; hoặc hỗ trợ tổ chức đưa đón hằng ngày với mức tối đa 510.000-730.000 đồng/học sinh/tháng theo cấp học.
5. Hỗ trợ học phí cho học sinh phổ thông, học viên trung học phổ thông học tại cơ sở tư thục, thuộc đối tượng yếu thế và ưu tiên, hoặc thường trú tại xã Thống Nhất và trúng tuyển vào Trường THPT Thống Nhất theo chỉ tiêu hằng năm bằng mức học phí thực tế nhưng không quá 936.000 đồng/học sinh/tháng.
6. Hỗ trợ chi phí học tập 150.000 đồng/học sinh, học viên/tháng cho các đối tượng yếu thế và ưu tiên.
7. Hỗ trợ Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh kinh phí đưa đón học sinh năng khiếu, vận động viên với mức không quá 500.000 đồng/học sinh/tháng.
Dự kiến tổng kinh phí thực hiện các chính sách nêu trên là trên 400 tỷ đồng/năm học, hỗ trợ cho trên 340.000 lượt trẻ em, học sinh, học viên/năm học.
10:20 ngày 15/12/2025
"Bảo đảm quyền lợi cho các đối tượng, đồng thời phù hợp với chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy"
Đồng chí Vũ Thị Mai Anh, Giám đốc Sở Nội vụ trình bày một số tờ trình dự thảo nghị quyết về một số chính sách trên địa bàn tỉnh:
Tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định mức thu lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026-2030. Đối tượng chịu lệ phí là người sử dụng người lao động nước ngoài thực hiện thủ tục hành chính cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép lao động trên địa bàn tỉnh; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến thu, quản lý lệ phí; liên quan đến việc giải quyết TTHC cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh.
Mức thu lệ phí cấp (cấp, cấp lại, gia hạn) giấy phép lao động: 0 đồng/giấy phép. Phương thức thực hiện TTHC: Người sử dụng người lao động nước ngoài nộp hồ sơ tại Cổng dịch vụ công Quốc gia (http://dichvucong.gov.vn) hoặc trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ HCC tỉnh. Nghị quyết này quy định mức thu lệ phí đến hết năm 2030, do vậy, nguồn tài chính để thi hành nghị quyết từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định.
Tờ trình, dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND ngày 9/12/2022 của HĐND tỉnh về chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học đối với viên chức Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ, viên chức các đơn vị sự nghiệp công lập lĩnh vực y tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2025. Giám đốc Sở Nội vụ cho biết: Điều chỉnh đối tượng thu hút là sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 179/2024/NĐ-CP của Chính phủ; giữ nguyên mức hỗ trợ thu hút hằng tháng bằng 100% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng.
Thời gian hưởng không quá 5 năm (60 tháng) kể từ ngày có quyết định tuyển dụng, tiếp nhận. Kéo dài thời gian thực hiện Nghị quyết đến hết ngày 31/12/2026; cán bộ, công chức, viên chức được thu hút; viên chức được cử đi đào tạo sau đại học đến hết ngày 31/12/2026 mà chưa hưởng hết các chính sách hỗ trợ hoặc khóa học chưa kết thúc theo đúng thời gian quy định thì tiếp tục được hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định của Nghị quyết này. Các trường hợp đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt hưởng chính sách thu hút theo Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND thì tiếp tục được hưởng các chính sách hỗ trợ trong thời hạn 5 năm kể từ ngày có quyết định tuyển dụng.
Tờ trình dự thảo Nghị quyết về việc quyết định biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước và cán bộ, công chức cấp xã; tổng số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập năm 2026. Tổng biên chế được giao năm 2025 là 5.016 người. Tính đến ngày 1/11/2025, tổng số công chức có mặt là 3.702 người, còn 1.314 biên chế chưa sử dụng. Số lượng người làm việc (NLV) trong đơn vị sự nghiệp công lập: Tổng số được giao năm 2025 là 23.845 chỉ tiêu. Đến ngày 1/11/2025, tổng số NLV có mặt là 22.532/23.845 chỉ tiêu, còn 1.313 chỉ tiêu chưa sử dụng.
Đề xuất biên chế và số lượng người làm việc năm 2026: Nguyên tắc chung là giữ nguyên tổng số biên chế công chức (5.016) và tổng số lượng người làm việc (23.845) so với năm 2025. Việc điều chỉnh này chủ yếu do sắp xếp tổ chức bộ máy và chấm dứt mô hình thí điểm Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp.
Biên chế công chức năm 2026 tổng số là 5.016 biên chế. Số lượng người làm việc hưởng lương ngân sách nhà nước năm 2026 (tổng số 23.845). Tờ trình là cơ sở để UBND tỉnh đề nghị HĐND tỉnh thông qua Nghị quyết về kế hoạch biên chế và số lượng người làm việc năm 2026, đảm bảo việc quản lý và sử dụng nhân sự theo đúng quy định, phục vụ công tác xây dựng dự toán ngân sách năm 2026.
Tờ trình dự thảo Nghị quyết về việc chấm dứt thí điểm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ Nghị định số 118/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia; trên cơ sở đánh giá 1 năm thí điểm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh và đề xuất mô hình Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã của các cơ quan, địa phương, sau khi báo cáo và được sự đồng ý về chủ trương của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, UBND tỉnh kính trình HĐND tỉnh về việc chấm dứt thí điểm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh.
Cụ thể như sau: Chấm dứt thí điểm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh theo Nghị quyết số 238/NQ-HĐND ngày 6/12/2024 của HĐND tỉnh về việc thí điểm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ninh. Về mô hình hoạt động sau khi chấm dứt thí điểm: Thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh là tổ chức hành chính thuộc Văn phòng UBND tỉnh; Thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã là tổ chức hành chính thuộc UBND cấp xã.
Thời gian thực hiện như sau: Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp tiếp tục hoạt động cho đến hết ngày 31/12/2025. Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp xã chính thức hoạt động từ ngày 1/1/2026, bảo đảm giải quyết các thủ tục hành chính liên tục, thông suốt, không để gián đoạn, ảnh hưởng đến việc phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Tờ trình dự thảo Nghị quyết quyết định số lượng hợp đồng lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2026. Căn cứ các quy định hiện hành và trên cơ sở nội dung báo cáo, đề xuất của UBND các xã, phường, đặc khu, nội dung đề xuất, thẩm định của Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nội vụ đã tiếp thu, hoàn thiện nội dung dự thảo Tờ trình của UBND tỉnh trình HĐND tỉnh quyết định ban hành Nghị quyết quyết định số lượng HĐLĐ trong các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2026 đảm bảo các quy định, trình tự thủ tục.
Nguyên tắc: Số giao tối đa theo đề xuất của các cơ quan, đơn vị, địa phương không quá 70% số chênh lệch giữa số người làm việc được giao năm 2025 và số lượng theo định mức quy định (sau đây viết tắt là số chênh lệch) theo từng cấp học; riêng Sở Giáo dục và Đào tạo đề xuất số giao HĐLĐ bằng 54% số chênh lệch. Đồng thời, đề xuất số lượng HĐLĐ trong các cơ quan, đơn vị năm 2026, cụ thể: Giao 1.070 HĐLĐ (tỷ lệ 65,4% chênh lệch) cho 289 cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Trong đó, Sở Giáo dục và Đào tạo được giao 202 hợp đồng lao động cho 34 trường; UBND cấp xã được giao 868 hợp đồng lao động cho 255 trường.
Theo đó, dự kiến số lượng HĐLĐ trong các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh năm 2026 thấp hơn số giao năm 2025 (thấp hơn 696 HĐLÐ được giao, thấp hơn 204 HĐLĐ đang có mặt). Do trong tháng 10/2025 (năm học 2025-2026), UBND các xã, phường, đặc khu đã thực hiện sắp xếp giảm trên 50% đầu mối cơ sở giáo dục trên địa bàn, thực hiện sắp xếp, bố trí lãnh đạo quản lý dôi dư thực hiện giảng dạy; đồng thời cũng làm dôi dư một số vị trí chuyên môn dùng chung (văn thư, kế toán; thư viện, quản trị công sở, y tế học đường, tổng phụ trách khối tiểu học...).
Đối với các địa phương không được giao hoặc được giao chỉ tiêu HĐLĐ năm 2026 thấp hơn số HĐLĐ có mặt, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn làm việc, hướng dẫn các địa phương tiếp tục ký kết HĐLĐ trong chỉ tiêu người làm việc được giao chưa sử dụng (dự kiến có 6 HĐLĐ có mặt không tiếp tục sử dụng do các địa phương không còn chỉ tiêu để ký kết). Nguồn kinh phí thực hiện được trích từ ngân sách nhà nước đảm bảo dự toán chi thường xuyên, sự nghiệp giáo dục và đào tạo năm 2026 theo phân cấp quản lý ngân sách hiện hành và sẽ có hiệu lực kể từ ngày được thông qua.
Tờ trình về dự thảo Nghị quyết quy định chế độ, chính sách nghỉ việc đối với người làm việc ngoài chỉ tiêu biên chế tại các Hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp tỉnh trước thời điểm ngày 01/7/2025 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Giám đốc Sở Nội vụ cho biết, dự thảo Nghị quyết gồm 7 điều, quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, chính sách, chế độ, thời gian giải quyết, nguồn kinh phí và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Đối tượng áp dụng bao gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch chuyên trách trong độ tuổi lao động; Chủ tịch, Phó Chủ tịch chuyên trách đã nghỉ hưu và người trong độ tuổi lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động tại các Hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Về mức hỗ trợ, các đối tượng trong độ tuổi lao động được hưởng trợ cấp một lần bằng 24 tháng tiền lương hiện hưởng; đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch chuyên trách đã nghỉ hưu được hưởng trợ cấp một lần bằng 12 tháng thù lao hiện hưởng.
Thời gian giải quyết và chi trả chính sách hoàn thành chậm nhất đến ngày 31/12/2025; trường hợp Trung ương có điều chỉnh thì thực hiện theo quy định mới. UBND tỉnh trình HĐND tỉnh xem xét, thảo luận và quyết nghị nhằm bảo đảm quyền lợi cho các đối tượng, đồng thời phù hợp với chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế theo quy định của Chính phủ.
10:28 ngày 15/12/2025
"Chủ trương đầu tư các dự án xây dựng nhà ở đảm bảo cần thiết, phù hợp về thẩm quyền"
Đồng chí Nguyễn Anh Tú, Giám đốc Sở Xây dựng, trình bày tóm tắt các nội dung tờ trình nhằm cụ thể hóa mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh, hình thành khu đô thị - dịch vụ - du lịch và thể thao hiện đại, đồng bộ".
Đối với Tờ trình dự thảo Nghị quyết về việc thông qua Quy hoạch phân khu Đô thị B4, B5, B6, B7, B9 thuộc Quy hoạch chung thị xã Quảng Yên (cũ) tại phường Hà An, tỉnh Quảng Ninh với chỉ tiêu sử dụng đất thể dục thể thao vượt quá chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh, đồng chí Giám đốc Sở Xây dựng nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị quyết nhằm cụ thể hóa mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh, hình thành khu đô thị - dịch vụ - du lịch và thể thao hiện đại, đồng bộ, góp phần sớm đưa Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Tờ trình được xây dựng trên đề xuất của Sở Xây dựng và tuân thủ các quy định liên quan đến Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn và Nghị quyết số 66.1/2025/NQ-CP của Chính phủ về xử lý các vướng mắc trong việc lập, điều chỉnh, phê duyệt quy hoạch phân khu đối với khu vực hình thành đô thị khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.
Đồng chí Giám đốc Sở Xây dựng nêu rõ: Phạm vi quy hoạch gồm các khu B4, B5, B6, B7, B9 thuộc phường Hà An, TX Quảng Yên (cũ). Quy mô diện tích lập quy hoạch khoảng 2.824,34ha, với quy mô dân số khoảng 83.320 người.
Đối với vấn đề vượt chỉ tiêu đất thể dục thể thao (TDTT), đồng chí chỉ rõ phương án quy hoạch xác định tổng diện tích đất TDTT là khoảng 716,14ha. Trong đó, đất thể dục thể thao - sân golf chiếm 694,94ha, đây là phần diện tích chính dẫn đến việc vượt chỉ tiêu chung của tỉnh. Khu B4 được định hướng chức năng chính là khu thể thao và du lịch cấp đô thị.
Chỉ tiêu sử dụng đất TDTT toàn tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là 2.704,0ha. Tuy nhiên, tổng diện tích đất TDTT qua rà soát thực tế (bao gồm cả quy hoạch B4-B9) là 3.496,58ha. Điều này dẫn đến diện tích đất TDTT hiện tại vượt quá 792,58ha so với chỉ tiêu được duyệt cấp tỉnh. UBND tỉnh đã báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đề xuất điều chỉnh nhu cầu sử dụng đất đến năm 2030, tăng chỉ tiêu đất xây dựng cơ sở TDTT thêm 1.122,0ha (lên tổng số 3.826,0ha), trong đó bao gồm cả đất TDTT (sân golf) tại Khu B4.
UBND tỉnh đề nghị HĐND tỉnh xem xét, quyết định thông qua Quy hoạch phân khu Đô thị B4, B5, B6, B7, B9 với chỉ tiêu sử dụng đất thể dục thể thao vượt quá chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh. Việc thông qua này sẽ là cơ sở để UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết và chỉ đạo thẩm định, phê duyệt quy hoạch phân khu theo đúng quy định pháp luật.
Đối với Tờ trình dự thảo Nghị quyết về việc bãi bỏ Nghị quyết số 295/NQ-HĐND ngày 31/10/2020 của HĐND tỉnh “Về chủ trương đầu tư các dự án xây dựng nhà ở tại các địa phương: Hạ Long, Quảng Yên”
Ngày 31/10/2020, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 295/NQ-HĐND “Về chủ trương đầu tư các dự án xây dựng nhà ở tại các địa phương: Hạ Long, Quảng Yên”. Trong đó, HĐND tỉnh thống nhất chủ trương đầu tư 2 dự án xây dựng nhà ở tại TP Hạ Long và TX Quảng Yên (trước đây) gồm: Khu đô thị Thiên đường Sông Khoai tại các phường (Hiệp Hòa và Đông Mai), tỉnh Quảng Ninh; khu dân cư Bắc Cửa Lục, thôn Tân Tiến, xã Lê Lợi, thành phố Hạ Long (nay là phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh). Tuy nhiên, đến nay việc triển khai áp dụng Nghị quyết trên của HĐND tỉnh đã không còn phù hợp.
Nguyên nhân được chỉ rõ là do Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1679/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 “Về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Ninh năm 2025”. Trong đó, thực hiện sắp xếp 170 đơn vị hành chính cấp xã (90 xã, 73 phường, 7 thị trấn) để hình thành 54 đơn vị hành chính cấp xã mới (22 xã, 30 phường, 2 đặc khu), giảm 117 đơn vị hành chính cấp xã. Do vậy, chính quyền địa phương 2 cấp chính thức hoạt động từ ngày 01/7/2025 (không còn mô hình cấp huyện).
Đối với Khu đô thị Thiên đường Sông Khoai tại các phường (Hiệp Hòa và Đông Mai), tỉnh Quảng Ninh, ngày 27/11/2025, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 4518/QĐ-UBND “V/v hủy bỏ Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 dự án Khu đô thị Thiên đường Sông Khoai tại xã Sông Khoai và phường Đông Mai, TX Quảng Yên đã được UBND TX Quảng Yên phê duyệt tại Quyết định số 4109/QĐ-UBND ngày 29/10/2019". Ngày 30/11/2025, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 4543/QĐ-UBND ngày 30/11/2025 “Hủy bỏ Quyết định số 4359/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của UBND tỉnh về việc chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Khu đô thị Thiên đường Sông Khoai tại xã Sông Khoai và phường Đông Mai, thị xã Quảng Yên”.
Đối với Khu dân cư Bắc Cửa Lục tại phường Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, đến nay, dự án chưa được UBND tỉnh phê duyệt Chủ trương đầu tư, chưa lựa chọn chủ đầu tư và theo quy định Luật Đầu tư năm 2020, Luật Nhà ở năm 2023 đối với các dự án phát triển nhà ở thương mại khi Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư không phải thông qua trình HĐND tỉnh cùng cấp. Đến nay đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hạ Long đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 72/QĐ-TTg ngày 10/2/2023, do vậy cần phải rà soát các định hướng Quy hoạch đô thị và nông thôn khu vực để nghiên cứu triển khai đảm bảo phù hợp theo quy định. Nội dung này đã được HĐND tỉnh chỉ đạo cụ thể: “Đối với Dự án Khu dân cư Bắc Cửa Lục, thôn Tân Tiến, xã Lê Lợi, thành phố Hạ Long thuộc phân khu HB3: Chỉ được xem xét quyết định chủ trương đầu tư dự án sau khi đã hoàn thành việc điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Hạ Long sau khi sáp nhập huyện Hoành Bồ vào thành phố Hạ Long và phù hợp với Quy hoạch".
Với những lý do nêu trên, việc xây dựng Nghị quyết bãi bỏ Nghị quyết số 295/NQ-HĐND ngày 31/10/2020 của HĐND tỉnh về chủ trương đầu tư các dự án xây dựng nhà ở tại các địa phương: Hạ Long, Quảng Yên là cần thiết, đảm bảo phù hợp về thẩm quyền theo quy định điểm d khoản Điều 15 Luật Chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 quy định về Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND tỉnh.
10:35 ngày 15/12/2025
"Đảm bảo giữ vững an ninh, trật tự, ổn định xã hội"
Phó Giám đốc Công an tỉnh Lê Hồng Vân trình bày Tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định chính sách thực hiện cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy và hỗ trợ lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Dự thảo Nghị quyết được xây dựng theo quy trình được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; lấy ý kiến góp ý bằng văn bản của các sở, ban, ngành, địa phương; đăng tải toàn văn các dự thảo trong hồ sơ xây dựng Nghị quyết trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh; tổng hợp, tiếp thu ý kiến tham gia của các cơ quan, đơn vị và báo cáo thẩm định của Sở Tư pháp.
Nội dung cơ bản của dự thảo Nghị quyết gồm 12 chính sách được kế thừa đầy đủ từ Nghị quyết số 18/2023/NQ-HĐND, trong đó giữ nguyên 6 chính sách và thay đổi 6 chính sách về đối tượng, mức hỗ trợ. Cụ thể:
+ Chính sách 1: Chi các khoản hỗ trợ thêm ngoài định mức chi ngân sách theo quy định khung của Chính phủ đối với người cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh.
+ Chính sách 2: Chi các khoản hỗ trợ thêm ngoài định mức chi ngân sách theo quy định khung của Chính phủ đối với người cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Quảng Ninh.
+ Chính sách 3: Chi hỗ trợ hằng tháng cho cán bộ, chiến sĩ trực tiếp đấu tranh, phòng chống tội phạm ma túy thuộc cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy và cán bộ, chiến sĩ làm công tác giám định chất ma túy thuộc Công an tỉnh; mức hỗ trợ bằng 4.700.000 đồng/người/tháng.
+ Chính sách 4: Chi hỗ trợ hằng tháng cho cán bộ, chiến sĩ trực tiếp đấu tranh phòng, chống ma túy thuộc Công an cấp xã; cán bộ, chiến sĩ trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy thuộc Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; cán bộ, công chức trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy thuộc Đội kiểm soát Hải quan, Chi cục Hải quan khu vực VIII; mức hỗ trợ bằng 2.400.000 đồng/người/tháng.
+ Chính sách 5: Chi hỗ trợ cán bộ, chiến sĩ, người lao động làm việc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh, trong đó: (1) Đối với bác sĩ là 14.000.000 đồng/người/tháng; (2) Đối với những người còn lại là 4.700.000 đồng/người/tháng.
+ Chính sách 6: Chi hỗ trợ hằng tháng cho cán bộ, chiến sĩ thuộc ngành Công an trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tham mưu quản lý, lập hồ sơ, theo dõi công tác cai nghiện ma túy, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện, người cai nghiện và người bị quản lý sau cai nghiện ma túy trên địa bàn. Mức hỗ trợ 2.400.000 đồng/người/tháng.
Nguồn lực thực hiện: Từ nguồn lực đã bố trí theo Nghị quyết 18/2023/NQ-HĐND.
10:40 ngày 15/12/2025
“Sử dụng hiệu quả nguồn phí được thu trong khu vực cửa khẩu trên địa bàn tỉnh”
Đồng chí Châu Thành Hưng, Phó Trưởng Ban Quản lý KKT tỉnh trình bày tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Việc ban hành Nghị quyết này thay thế Nghị quyết số 51/NQ-HĐND ngày 26/2/2025 của HĐND tỉnh bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế hiện nay; bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành, thực hiện thống nhất, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phí, góp phần đồng bộ, thống nhất các chính sách của tỉnh và trung ương đã ban hành.
Theo tờ trình, đối tượng nộp phí là tổ chức, cá nhân sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu. Đơn vị thu phí: Ban Quản lý cửa khẩu tỉnh Quảng Ninh trực thuộc Ban Quản lý KKT tỉnh. Quy định nội dung, mức thu phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu giữ nguyên như quy định tại Nghị quyết số 51/NQ-HĐND ngày 26/2/2025 của HĐND tỉnh. Các lực lượng chức năng tại cửa khẩu, lối mở, lối thông quan trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra biên lai nộp phí của các đối tượng nộp phí theo quy định trước khi thông quan hàng hóa, xuất nhập cảnh phương tiện.
Đơn vị thu phí được để lại 25% trong tổng số tiền phí thu được, số còn lại 75% nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định...
10:45 ngày 15/12/2025
"Thẩm tra kỹ lưỡng các nội dung về kinh tế - ngân sách trình kỳ họp"
Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách, HĐND tỉnh Đỗ Thị Ninh Hường trình bày các báo cáo thẩm tra đối với nhiều nội dung quan trọng trình tại kỳ họp.
Các báo cáo tập trung vào dự thảo nghị quyết: Dự thảo Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2026 - 2030; Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2026 và dự thảo Nghị quyết về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; Dự thảo Nghị quyết quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương; nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách địa phương năm 2026; Dự thảo Nghị quyết về dự toán thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách địa phương, phân bổ dự toán chi ngân sách cấp tỉnh và cơ chế, biện pháp điều hành ngân sách địa phương năm 2026; Dự thảo Kế hoạch đầu tư công năm 2026; Dự thảo Nghị quyết quy định Bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 01/01/2026 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Dự thảo Nghị quyết về việc ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đợt 5 năm 2025; điều chỉnh tên dự án, khu đất thực hiện dự án đã được HĐND tỉnh ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất; Dự thảo Nghị quyết về việc thông qua Quy hoạch phân khu Đô thị B4, B5, B6, B7, B9 thuộc Quy hoạch chung thị xã Quảng Yên tại phường Hà An, tỉnh Quảng Ninh với chỉ tiêu sử dụng đất thể dục thể thao vượt quá chỉ tiêu sử dụng đất cấp tỉnh.
Dự thảo Nghị quyết về việc hủy bỏ danh mục các công trình, dự án đã được HĐND tỉnh thông qua danh mục dự án phải thu hồi đất, danh mục dự án chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa; Dự thảo Nghị quyết thông qua danh mục các công trình, dự án thu hồi đất (đợt 7) và quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác (đợt 8) năm 2025 để thực hiện các dự án, công trình trên địa bàn tỉnh; Dự thảo Nghị quyết đề nghị HĐND tỉnh cho ý kiến về việc ban hành quy định mức tỷ lệ (%) để tính đơn giá thuê đất, mức tỷ lệ (%) thu đối với đất xây dựng công trình ngầm, mức tỷ lệ (%) thu đối với đất có mặt nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Dự thảo Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Dự thảo Nghị quyết quy định mức thu lệ phí cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026-2030; Dự thảo Nghị quyết quy định một số mức chi sự nghiệp bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Dự thảo Nghị quyết Quy định nội dung, mức chi hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp tỉnh Quảng Ninh nhiệm kỳ 2026-2031; Dự thảo Nghị quyết ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh khoá XIV, nhiệm kỳ 2021-2026; Dự thảo Nghị quyết về việc bãi bỏ Nghị quyết số 295/NQ-HĐND ngày 31/10/2020 của HĐND tỉnh về chủ trương đầu tư các dự án xây dựng nhà ở tại các địa phương: Hạ Long, Quảng Yên.
Các nội dung thẩm tra đã được Ban Kinh tế – Ngân sách, HĐND tỉnh cho nghiên cứu kỹ hồ sơ, đối chiếu các quy định pháp luật hiện hành, bám sát các nghị quyết, chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh. Đồng thời tổ chức thảo luận, làm việc với các cơ quan soạn thảo để làm rõ các nội dung còn ý kiến khác nhau. Ban cơ bản thống nhất với các dự thảo nghị quyết, báo cáo do UBND tỉnh trình, đồng thời đề nghị các cơ quan liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện một số nội dung nhằm bảo đảm tính khả thi, hiệu quả trong tổ chức thực hiện sau khi được HĐND tỉnh xem xét, quyết nghị.
11:00 ngày 15/12/2025
"Đảm bảo theo quy trình và đúng thẩm quyền của HĐND tỉnh"
Đồng chí Vũ Thị Diệu Linh, Trưởng Ban Văn hoá - Xã hội, HĐND tỉnh, trình bày tóm tắt báo cáo kết quả thẩm tra các Dự thảo Nghị quyết Quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Dự thảo quy định chính sách hỗ trợ đóng BHYT cho một số nhóm đối tượng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2026-2030; Dự thảo Nghị quyết về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ, ưu đãi quy định tại Nghị quyết số 312/2020/NQ-HĐND ngày 09/12/2020 của HĐND tỉnh về việc ban hành chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với huấn luyện viên, vận động viên, nghệ nhân và Đội bóng chuyền nữ hạng đội mạnh quốc gia tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2021-2025; Dự thảo Nghị quyết quy định một số chính sách trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ năm học 2025-2026 đến năm học 2030-2031.
Cùng với đó là Dự thảo về việc quy định giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc danh mục do quỹ BHYT thanh toán; giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do ngân sách nhà nước thanh toán; giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc danh mục do quỹ BHYT thanh toán mà không phải là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc tỉnh Quảng Ninh quản lý.
Đồng chí nhấn mạnh, các dự thảo nghị quyết đảm bảo theo quy trình và đúng thẩm quyền của HĐND tỉnh. Đồng thời, đề nghị bổ sung xem xét, điều chỉnh một số nội dung, phạm vi phù hợp thực tiễn, đúng quy định.
11:08 ngày 15/12/2025
"Thẩm tra nội dung pháp chế kỹ lưỡng, đảm bảo phù hợp khi đi vào thực tiễn"
Đồng chí Phạm Thị Hồng Hạnh, Trưởng Ban Pháp chế, HĐND tỉnh, trình bày tóm tắt các báo cáo thẩm tra của Ban về các nội dung quan trọng trong lĩnh vực pháp chế, gồm:
(1) Báo cáo kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.
(2) Báo cáo tình hình, kết quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2025; nhiệm vụ năm 2026.
(3) Báo cáo tình hình, kết quả công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật năm 2025; nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2026.
(4) Báo cáo công tác năm 2025 của ngành Kiểm sát Quảng Ninh.
(5) Báo cáo về công tác xét xử năm 2025.
(6) Báo cáo về công tác thi hành án dân sự năm 2025.
(7) Dự thảo Nghị quyết về việc quyết định biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước và cán bộ, công chức cấp xã; tổng số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập năm 2026.
(8) Dự thảo Nghị quyết quyết định số lượng hợp đồng lao động trong các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2026.
(9) Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 05/2022/NQ-HĐND ngày 9/12/2022 của HĐND tỉnh về chính sách thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ; chính sách hỗ trợ đào tạo sau đại học đối với viên chức Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ, viên chức các đơn vị sự nghiệp công lập lĩnh vực Y tế tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2023-2025.
(10) Dự thảo Nghị quyết quy định chính sách thực hiện cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy và hỗ trợ lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
(11) Dự thảo Nghị quyết về việc chấm dứt thí điểm thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
(12) Dự thảo Nghị quyết quy định chế độ, chính sách nghỉ việc đối với người làm việc ngoài chỉ tiêu biên chế tại các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở cấp tỉnh trước thời điểm ngày 01 tháng 7 năm 2025 theo Điều 4 Nghị quyết số 07/2025/NQ-CP của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Công tác thẩm tra của Ban về các nội dung trong lĩnh vực pháp chế được thực hiện chu đáo, đánh giá các dự thảo đảm bảo phù hợp, có tính khả thi khi đi vào thực tiễn.
Kết thúc phần trình bày các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết. Chiều nay, HĐND tỉnh tiếp tục chương trình kỳ họp thứ 34.