Theo số liệu thống kê của các cơ quan chức năng thì năm 2012 lượng hàng hoá, hành khách thông qua các cảng biển Quảng Ninh đứng thứ 3 cả nước. Cụ thể đã có 7.469 lượt tàu biển ra vào cảng; hàng hoá các loại thông qua gần 50 triệu tấn; tổng kim ngạch XNK qua các cảng biển là 5,9 tỷ USD; thu ngân sách qua hoạt động dịch vụ cảng biển 15.772 tỷ đồng... Tuy nhiên, kết quả này chưa đạt được như mong muốn về một tỉnh có điều kiện, tiềm năng rất lớn về lợi thế cảng biển, nhất là trong bối cảnh đang được xác định là địa phương triển khai điểm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.
Rất nhiều hạn chế
Hiện trên địa bàn tỉnh có 4 hệ thống cảng biển gồm: Vạn Gia, Mũi Chùa, Cẩm Phả, Hạ Long đang khai thác; có 21 cầu cảng, với tổng chiều dài 3.451m, trong đó 14 cầu chuyên dụng cho: Than, xi măng, xăng dầu, khách, đóng tàu còn lại 7 cầu bốc dỡ hàng hoá tổng hợp. Khu vực cảng biển Cẩm Phả đón tàu đến 7 vạn tấn, khu vực Hạ Long đón tàu 5 vạn tấn. Trên địa bàn có 39 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ hàng hải với các loại hình kinh doanh là: Xếp dỡ, vận tải, lưu kho bãi, giao nhận hàng hoá, hoa tiêu… Để khai thác hiệu quả hệ thống cảng biển, trong những năm qua các cảng biển trên địa bàn đã được xây dựng hiện đại. Điển hình như cảng Cẩm Phả là cảng chuyên dùng để bốc rót than lớn nhất hiện nay, vì vậy ngoài việc đầu tư, cải tạo, mở rộng cảng, ngành Than còn đầu tư gần 100 tỷ đồng để xây dựng kéo dài 250m cầu tàu, nạo vét khu nước trước cảng, nạo vét luồng lạch, có thể đưa tàu trọng tải 7 vạn tấn cập cảng lấy hàng, đáp ứng nhu cầu gia tăng sản lượng sản xuất, tiêu thụ của Vinacomin. Đặc biệt vùng neo Hòn Nét, từ năm 2001 đã đưa vào sử dụng 2 phao thép có đường kính 5m neo xuống 2 rùa bê tông nặng 230 tấn/rùa cho phép tàu có trọng tải 7 vạn tấn vào neo đậu chuyển tải; 2 phao thép có đường kính 4m cho sà lan neo đậu.
Dù có rất nhiều ưu thế nổi trội, nhưng việc phát huy được các lợi thế này chưa nhiều, các hoạt động dịch vụ hàng hải chưa phát triển so với tiềm năng, lợi thế; môi trường, cơ chế chính sách, thủ tục, quảng bá tại các cảng biển Quảng Ninh còn hạn chế; dịch vụ vận tải, đặc biệt là vận tải biển Quảng Ninh không những không phát triển mà ngày một thu hẹp; một số loại hình dịch vụ không có như: Sửa chữa, cung ứng vật tư thiết bị chuyên dùng cho tàu thuyền, phương tiện, thiết bị, xếp dỡ… Đầu tư cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật cảng biển đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, thế nhưng từ trước tới nay nguồn vốn đầu tư đều bằng ngân sách, kể cả vay ODA, việc huy động vốn của doanh nghiệp tư nhân rất thấp, chỉ khoảng 2% số vốn.
Đồng chí Nguyễn Minh Bạch, Giám đốc Sở Giao thông - Vận tải cho biết: Trong tình trạng chung của các nước, việc phát triển hệ thống cảng biển của tỉnh hiện đang có sự bất cập cả ở “phần cứng” (hạ tầng kỹ thuật) và “phần mềm” (xây dựng, quản lý quy hoạch và ban hành cơ chế vận hành các cảng biển). Nhất là hệ thống hạ tầng phục vụ logistics yếu kém cả về năng lực vận tải và khả năng kết nối hệ thống cũng như kết nối giữa các phương thức vận tải. Mạng kỹ thuật hạ tầng sau cảng (bao gồm điện, nước, đường giao thông sắt, bộ nối mạng quốc gia...) cũng chưa đồng bộ với quy mô, thời điểm đưa cảng vào vận hành khai thác. Việc kêu gọi nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân vào khu vực cảng biển hiện rất khó do xây dựng cảng biển đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian lâu dài, hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, còn thiếu đồng bộ. Vấn đề được các nhà đầu tư quan tâm nhiều nhất là việc đảm bảo quyền lợi cũng như việc chia sẻ rủi ro của nhà nước như thế nào khi họ đầu tư vào lĩnh vực này.
Muốn nâng tầm kinh tế hàng hải
Trong thực hiện chiến lược biển Việt Nam và phát huy vị trí của tỉnh nằm trong dải ven biển Vịnh Bắc Bộ, thời gian qua tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành rà soát và quy hoạch lại hệ thống cảng biển địa phương và các bến thuỷ nội địa mang tầm cỡ quốc tế và khu vực, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả nhất và đảm bảo môi trường trong tương lai. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành các dự án đang triển khai và đầu tư nâng cấp một số cảng khách du lịch và các cảng bốc xếp hàng hoá thông thương với Trung quốc như: Cảng Núi Đỏ, Mũi Chùa, Dân Tiến… Tập trung nghiên cứu đầu tư xây dựng cảng Hải Hà thành cảng trung chuyển hàng hoá lớn trong nước và quốc tế, chuyển mục đích sử dụng một số cảng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao.
Để đạt được mục tiêu này, theo đề xuất của các đơn vị liên quan trong cuộc họp mới đây của tỉnh về phát triển hệ thống cảng biển đó là cần nâng cao chất lượng khai thác các cảng biển và mở rộng các loại hình dịch vụ tại cảng biển như: Đại lý vận tải, hoa tiêu, cung ứng tàu biển, sửa chữa và cung ứng trang thiết bị cho tàu thuyền; có cơ chế, chính sách đặc thù tạo điều kiện thuận lợi, bình đẳng, thông thoáng nhất là thủ tục hành chính; xây dựng cơ chế giám sát chất lượng hoạt động dịch vụ; xây dựng trạm đăng kiểm, trạm kiểm dịch; đề nghị Chính phủ cho mở rộng cơ chế đối với cả khu vực Mũi Chùa, Cẩm Phả, Hạ Long theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế… Và điều quan trọng nữa là để có được nguồn lực đầu tư cho hệ thống hạ tầng kỹ thuật của cảng biển rất cần những chính sách của chính quyền để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư cá nhân: Như cam kết không xây cảng mới gần khu vực, tạo kết nối giao thông... Điều quan trọng nhất là các đơn vị trực thuộc, cơ quan trung ương đóng trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ hàng hải cần chú trọng đến lợi ích lâu dài. Lãnh đạo tỉnh đã cam kết, tỉnh sẽ quyết tâm triển khai và hoàn thành các tuyến đường bộ, đường sắt kết nối đồng bộ hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong vận chuyển hàng hoá; tiếp đó tuyên truyền, đầu tư nâng cao lợi thế cạnh tranh của cảng Cái Lân. Đặc biệt đối với những dịch vụ hỗ trợ đi kèm sẽ đảm bảo được cung ứng đầy đủ và với năng suất, chất lượng, mức độ an toàn tốt nhất.
Ngọc Lan