Binh đoàn 19: Động lực từ đổi mới khoa học công nghệ

Binh đoàn 19: Động lực từ đổi mới khoa học công nghệ

Cover

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) vào thực tiễn trở thành yêu cầu tất yếu đối với mọi lĩnh vực. Với Binh đoàn 19, KHCN không chỉ là công cụ hỗ trợ mà còn là động lực quan trọng tạo nên bước chuyển mạnh mẽ trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế. Những năm gần đây, đơn vị đã chủ động đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ trong sản xuất, quản lý và huấn luyện, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động, tiết giảm chi phí, tăng năng suất lao động và xây dựng đơn vị ngày càng chính quy, hiện đại.

Ảnh trong văn bản

Công ty Khai thác khoáng sản hiện là một trong những đơn vị khai thác than lộ thiên chủ lực của Binh đoàn 19. Bám sát định hướng phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những năm gần đây, Công ty đã tập trung đầu tư thiết bị hiện đại, đổi mới phương thức tổ chức sản xuất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào hoạt động khai thác. Qua đó, năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh không ngừng được nâng lên, mang lại giá trị làm lợi hàng tỷ đồng cho đơn vị.

Đầu năm 2025, Công ty Khai thác khoáng sản tiếp tục đưa moong -200, vỉa 13-1 tại mỏ Đông Đá Mài vào khai thác mở rộng. Đây được xem là khu vực có địa tầng khai thác sâu nhất kể từ khi mỏ đi vào hoạt động đến nay, đồng thời cũng là khu vực khai thác trọng điểm với trữ lượng lớn, chiếm khoảng 60% tổng công suất toàn mỏ. Theo tính toán, sản lượng khai thác tại khu vực này có thể đạt khoảng 1,5 triệu tấn than mỗi năm. Để đáp ứng yêu cầu sản xuất, Công ty đã huy động đồng bộ nhiều dây chuyền thiết bị hiện đại phục vụ khai thác tại moong -200. Hiện đơn vị bố trí 6 dây chuyền máy xúc cùng khoảng 80 xe tải trọng lớn hoạt động liên tục 3 ca/ngày đêm, nhằm bảo đảm tiến độ sản xuất theo kế hoạch đề ra. Việc tổ chức khai thác theo hướng tập trung, cơ giới hóa cao không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn góp phần tối ưu hóa nhân lực, giảm chi phí vận hành và tăng hiệu quả khai thác.

Thiếu tá Tạ Quang Khánh, Quản đốc Công trường 1 (Công ty Khai thác khoáng sản) cho biết: Đơn vị đã tập trung huy động tối đa nhân lực, phương tiện và thiết bị chủ lực để đẩy nhanh tiến độ khai thác tại moong -200. Công trường duy trì hoạt động liên tục 3 ca/ngày đêm, bảo đảm khai thác hiệu quả tiềm năng của khu vực mỏ trọng điểm này. Từ đó, sản lượng khai thác luôn được duy trì ổn định, tạo nền tảng quan trọng để đơn vị hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra, đồng thời góp phần nâng cao năng suất lao động, hiệu quả vận hành thiết bị và bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động.

Ảnh với chú thích
Máy xúc, xe trọng tải lớn được Công ty Khai thác khoáng sản đưa vào phục vụ khai thác than theo hướng cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất.

Bên cạnh đó, Công ty còn đẩy mạnh áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và bảo đảm an toàn lao động. Trong đó, dây chuyền tuyển rửa, chế biến sâu tiếp tục được cải tiến theo hướng hiện đại; Đưa vào sử dụng hiệu quả máy xì bụi lọc gió động cơ, giúp hạn chế bụi phát sinh trong quá trình vận hành thiết bị, cải thiện môi trường làm việc và bảo vệ sức khỏe cho người lao động. Việc áp dụng thiết bị này không chỉ góp phần giảm tác động tới môi trường mà còn nâng cao năng suất lao động, bảo đảm hoạt động sản xuất diễn ra ổn định, liên tục. Đồng thời, Công ty đặc biệt chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề. Lực lượng sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị luôn được bố trí thường trực, sẵn sàng xử lý kịp thời các sự cố phát sinh, thực hiện nhiều hạng mục sửa chữa từ đơn giản đến phức tạp nhằm bảo đảm tiến độ sản xuất tại các công trường khai thác.

Những năm gần đây, Công ty 91 tập trung đẩy mạnh ứng dụng KHCN và cơ giới hóa vào hoạt động khai thác than hầm lò nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo đảm an toàn lao động. Việc đưa vào vận hành giàn mềm cơ khí, hệ thống điều hành tập trung cùng các dây chuyền tự động hóa đã mang lại nhiều chuyển biến rõ nét trong tổ chức sản xuất. Các thiết bị, công nghệ được lựa chọn đều phù hợp với điều kiện địa chất, đặc điểm vỉa than của đơn vị, giúp quá trình khai thác vận hành ổn định, liên tục và an toàn hơn. Nhờ đó, đã giảm sức lao động cho công nhân, tối ưu hóa nhân lực và nâng cao năng suất lao động. Hiện năng suất khai thác của đơn vị đạt khoảng 9,8 tấn/người/ca. Đặc biệt, hệ thống điều hành tập trung được xem là một trong những bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của Công ty. Thông qua hệ thống này, các thông số vận hành, tình trạng thiết bị và hoạt động sản xuất trong hầm lò được theo dõi, cập nhật liên tục tại trung tâm điều hành. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ giúp nâng cao khả năng giám sát, xử lý kịp thời các tình huống phát sinh mà còn góp phần tiết giảm khoảng 20% lao động giám sát trực tiếp tại hiện trường.

Ảnh với chú thích
Tư lệnh Binh đoàn 19 kiểm tra thực tế tại các khu vực sản xuất của Công ty 91.

Trung tá Lê Văn Lượng, Phó Giám đốc Công ty 91 cho biết, đơn vị đã chủ động nghiên cứu, làm chủ nhiều giải pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế tại mỏ. Trong đó, việc nghiên cứu, chế tạo và đưa vào sử dụng giá ZRY đã góp phần giảm tổn thất tài nguyên, nâng cao hiệu quả khai thác cũng như tăng mức độ an toàn trong quá trình vận hành. Cùng với đó, Công ty tiếp tục đầu tư hệ thống băng tải vận chuyển than liên tục, kết hợp công nghệ sàng tuyển khô và công nghệ hệ thống nước thải xoay vòng. Các giải pháp công nghệ mới đã góp phần nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường, đồng thời giúp đơn vị gia tăng doanh thu hơn 10 tỷ đồng mỗi năm. Đây được xem là nền tảng quan trọng để Công ty tiếp tục hiện đại hóa hoạt động khai thác than hầm lò, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Từ việc ứng dụng KHCN hiệu quả, Công ty 91 đã tạo chuyển biến toàn diện trong sản xuất, kinh doanh. Năm 2025, doanh thu của Công ty đạt 1.075 tỷ đồng, lợi nhuận 16,5 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 160 tỷ đồng, thu nhập bình quân của người lao động đạt 23,5 triệu đồng/tháng.

Ảnh với chú thích
Hệ thống điều hành tập trung tại Công ty 91.

Việc đẩy mạnh ứng dụng KHCN đang tạo ra những chuyển biến rõ nét trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thành viên thuộc Binh đoàn 19. Từ khai thác lộ thiên đến khai thác hầm lò, nhiều công nghệ mới, thiết bị hiện đại và sáng kiến kỹ thuật đã được đưa vào thực tiễn, góp phần nâng cao năng suất lao động, bảo đảm an toàn sản xuất, giảm chi phí vận hành và bảo vệ môi trường. Từ đó, không chỉ giúp các đơn vị nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà còn góp phần xây dựng môi trường làm việc an toàn, hiện đại, bền vững.

Ảnh trong văn bản

Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, Đảng ủy, Tư lệnh Binh đoàn 19 đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thu nhập cho người lao động, bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường; trong đó, đổi mới, ứng dụng công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật là khâu đột phá, giải pháp quan trọng hàng đầu.

Ảnh với chú thích
Trung tâm Giám định kiểm tra công tác giám định than tại khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Để thực hiện mục tiêu đó, Binh đoàn 19 đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, văn bản của các cấp về KHCN. Từ đó, Binh đoàn 19 đã xây dựng, ban hành quy chế quản lý hoạt động KHCN, có cơ chế, chính sách đãi ngộ và quan tâm đầu tư kinh phí cho công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật vào các khâu, các bước của quá trình khai thác, chế biến than. Để đạt hiệu quả, Binh đoàn 19 cũng chú trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng con người theo hiệu quả công việc. Hằng năm, Binh đoàn 19 yêu cầu các cơ quan, đơn vị đăng ký đề tài nghiên cứu, ứng dụng KHCN, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để từ đó xem xét phê duyệt, đầu tư kinh phí được trích từ lợi nhuận sản xuất, kinh doanh để triển khai thực hiện.

Xuất phát từ yêu cầu, đặc thù khai thác than ở từng đơn vị khác nhau, Binh đoàn 19 đã chủ trương nghiên cứu, lựa chọn, triển khai áp dụng công nghệ, tiến hành cơ giới hóa từng phần phù hợp với điều kiện địa chất, coi đây là “đòn bẩy” trong quá trình khai thác than. Theo đó, với khai thác mỏ lộ thiên, Binh đoàn 19 đã nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp, trình tự khai thác, vận chuyển, đổ thải hợp lý cho từng khu vực của các mỏ, nhằm phát huy vai trò, tính năng của các trang, thiết bị trong sản xuất, như: bố trí các tuyến hào vận tải bảo đảm không gây ách tắc sản xuất, tăng năng suất vận chuyển; bố trí trình tự khai thác các diện sản xuất hợp lý, bảo đảm sản lượng than, giảm cung độ vận chuyển đất tại các mỏ lộ thiên. Cùng với đó, để hạn chế xử lý bùn thải tại các moong khai thác, Binh đoàn 19 cũng chỉ đạo các đơn vị thực hiện tốt việc tạo nhiều moong tạm thứ cấp trên các diện khai thác, tuyến hào vận tải, tuyến tầng nhằm phân luồng thoát nước, lắng đọng bùn thải. Đồng thời, Binh đoàn đã áp dụng công nghệ bơm nước trong lỗ khoan, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc nổ chịu nước, vừa bảo đảm an toàn, vừa tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất hàng chục tỉ đồng/năm.

Ảnh với chú thích
Khai trường khai thác than lộ thiên của Công ty Khai thác Khoáng sản.

Đối với khai thác hầm lò, Binh đoàn 19 triển khai hàng loạt các ứng dụng, các giải pháp kỹ thuật, công nghệ đào lò, khai thác tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, như: áp dụng hệ thống lò chợ xiên chéo tại các vỉa có độ dốc lớn; sử dụng sơ đồ công nghệ lò chợ 1.0.0 và 1.0.1 vào khai thác, không để lại trụ bảo vệ (tại Công ty Khe Sim, 45, 91); áp dụng công nghệ giàn chống mềm ZRY và giàn mềm cơ khí trong khai thác lò chợ xiên chéo thay thế cho công nghệ khấu chống thủy lực đơn, lò dọc vỉa phân tầng, bảo đảm an toàn trong khai thác, tăng khả năng thu hồi than nóc, than trụ, tăng năng suất lao động, giảm mét lò đào, hạ giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, Binh đoàn đưa máy khấu một tang vào khai thác lò chợ có chiều dày vỉa mỏng tại vỉa 10T (Công ty Khe Sim) giúp tăng năng suất lao động hơn 1,9 lần so với khấu thủ công, bảo đảm thu hồi tối đa tài nguyên, chất lượng than; triển khai áp dụng công nghệ khai thác lò chợ bán cơ giới hóa sử dụng máy khấu một tang MG125/150-WD chống giữ lò chợ GTL1600/16/24MK tại Công ty 790 đạt hiệu quả cao.

Binh đoàn cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào nhận diện, cảnh báo, phát hiện, xử lý kịp thời nguy cơ mất an toàn trong sản xuất, góp phần giảm thiểu các vụ tai nạn, sự cố lao động so với trước đây. Đáng chú ý đó là triển khai có hiệu quả các giải pháp thông gió hợp lý, nhất là ứng dụng phần mềm Vensim, Kzamazu vào tính toán, quản lý thông gió mỏ, sử dụng các loại quạt gió lớn có cơ cấu đảo chiều FBDCZ No (10-22) lắp đặt cho các trạm thông gió chính ở các mỏ, hầm lò và quạt gió đa cấp loại FBDY, DBKJ,... để thông gió cho các gương lò đào có chiều dài thông gió cục bộ lớn từ 300 m - 1500 m, giúp rút ngắn thời gian thi công các đường lò khai thông, đẩy nhanh tiến độ ra than của các diện khai thác, tăng năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc. Ngoài ra, Binh đoàn còn chú trọng lắp đặt, chuyển giao, vận hành thành công các trạm giám sát khí mỏ tập trung tự động, kết nối, truyền kết quả qua mạng internet về văn phòng các đơn vị và của Binh đoàn để phục vụ việc quản lý, điều hành; lắp đặt, vận hành hệ thống camera giám sát hoạt động tời trục chở người trên giếng nghiêng, quản lý xe than bằng hệ thống định vị GPGS…

Ảnh với chú thích
Phòng giám sát và điều khiển tập trung tại Công ty 35.

Việc đẩy mạnh ứng dụng KHCN đã mang lại hiệu quả rõ nét trong thực tiễn sản xuất. Năm 2025, sản xuất than đạt trên 6,5 triệu tấn (101% kế hoạch); lợi nhuận đạt trên 1.000 tỷ đồng (111% kế hoạch, mức cao nhất từ khi thành lập); nộp ngân sách 3.400 tỷ đồng; thu nhập bình quân 22,67 triệu đồng/người/tháng (105% kế hoạch).

Phát huy những kết quả đạt được, năm 2026, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Binh đoàn 19 tiếp tục xác định KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh bền vững. Theo đó, Binh đoàn sẽ tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, kinh tế số vào quản lý, điều hành và tổ chức sản xuất; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, triển khai các dự án khai thác, chế biến khoáng sản theo hướng hiện đại, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cùng với nhiệm vụ phát triển sản xuất, Binh đoàn 19 tiếp tục quan tâm chăm lo đời sống, nâng cao thu nhập cho người lao động, xây dựng môi trường làm việc an toàn, chính quy, hiện đại. Năm 2026, Binh đoàn phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu chủ yếu với sản lượng sản xuất than và chế biến từ sản phẩm ngoài than đạt 6,7 triệu tấn; tiêu thụ than 12,8 triệu tấn; doanh thu trên 29.100 tỷ đồng; lợi nhuận đạt 1.050 tỷ đồng; thu nhập bình quân đạt 23,35 triệu đồng/người/tháng.

Ảnh với chú thích
Binh đoàn 19 tổ chức tập huấn, diễn tập ứng phó sự cố tràn dầu tại Cảng Km6, Công ty CP Vận tải và chế biến than Đông Bắc.

Có thể khẳng định, việc đẩy mạnh ứng dụng KHCN đang mở ra hướng phát triển mới cho Binh đoàn 19. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà còn là nền tảng quan trọng để Binh đoàn tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc phòng gắn với phát triển kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.

Ngày xuất bản: 12/5/2026

Thực hiện: VÂN ANH
Trình bày: MẠNH HÀ

Cùng chuyên mục