(Ông Đặng Đức Thạch, Nguyên Phó Chủ nhiệm HTX gốm Ánh Hồng (Đông Triều), trò chuyện với PV Báo Quảng Ninh)
Năm 1960, khi mới 22 tuổi, ông Đặng Đức Thạch từ quê hương Nam Định ra thị trấn Mạo Khê (huyện Đông Triều) làm thợ gốm, rồi làm Phó Chủ nhiệm HTX chuyên nghiên cứu men gốm ở đây. Ông chính là người đã góp phần tạo ra nhiều sản phẩm gốm đặc sắc mang thương hiệu gốm Đông Triều, cũng như đã truyền dạy cho nhiều “đệ tử” thành những thợ gốm lành nghề...
Ông Thạch tâm sự:
+ Thực ra tôi cũng chẳng phải “con nhà nòi” của làng gốm gì đâu. Nhưng khi ra Mạo Khê, thành xã viên HTX Ánh Hồng, thì coi như “số phận an bài”, nghề gốm đã đeo bám cả cuộc đời tôi như một mối duyên tiền định. Lúc địa phương mới thành lập HTX, bao nhiêu lớp đào tạo thợ gốm đã được mở ra. Các thầy ở Trung ương được mời về liên tục mấy đợt liền. Nhờ vậy mà có khoảng 800 xã viên đã được đào tạo. Hàng hoá bán đi khắp nơi trong cả nước. Thậm chí còn bán đi cả nước ngoài. Hồi ấy tôi được giao làm cái anh “chân chạy” thôi chứ chẳng được học hành ngày nào cả, nhưng được cái nhờ nhanh tay nhanh mắt học lỏm người này một ít người kia một ít mà tôi có chút lưng vốn về nghề gốm…
- “Chút lưng vốn” ấy cụ thể là những gì, thưa ông?
+ Nói chung là tất cả các công đoạn. Nhưng trong đó việc chế men gốm là thế mạnh của tôi. Anh cũng biết đấy, trong quá trình sản xuất gốm, ngoài chất liệu, phương pháp nung, thì men gần như là cái quyết định đến đặc trưng của mỗi loại sản phẩm…
- Vậy men gốm mà ông sáng chế ra có gì khác so với những nơi khác?
+ Tất nhiên là khác nhiều chứ. Có đến 22 loại men khác nhau. Nhưng tiêu biểu có thể kể ra ở đây là men ngọc, men chảy, men rạn, men đốm v.v.. Men ngọc vốn có từ xa xưa chứ chẳng phải do tôi chế ra. Sau này, tôi học lỏm được rồi thêm thắt vào mỗi thứ một ít mà có sự khác biệt hơn. Men ngọc là loại men chế từ đá, không pha tạp bất cứ thứ hoá chất nào. Men có độ chịu nhiệt rất cao, xanh như màu ngọc bích rất là đẹp. Men chảy khi nung ra, bề ngoài sản phẩm tráng lớp men thành từng dòng từ trên xuống. Đa phần những loại men đó tôi chế ra từ những loại đá của Đông Triều mình cả.
Ngoài men ngọc, men chảy ra, có những loại men khác được nhiều nơi học làm theo nhưng cũng không được. Ví như những chiếc vò, bình đựng rượu, đựng nước nhiều nơi làm ra đựng một thời gian là ngấm, nhưng chỗ tôi có loại men tráng ra ngâm lâu cỡ nào nước cũng không ngấm. Cái đó chúng tôi dùng men trong, men ngoài tráng hai lớp…
- Bây giờ những loại men đó còn được sử dụng phổ biến không, thưa ông?
+ Đáng buồn là không được sử dụng nhiều nữa. Cũng vì một lẽ, men chế ra cầu kỳ, giá thành lại cao. Trong khi đó, men nhập ngoại vừa rẻ vừa tiện lợi. Giờ chủ yếu là hai màu men trắng và men xanh cô ban nhập ngoại mà “diễn” thôi. Đơn điệu quá! Mà cũng phải thông cảm bởi các chủ lò, dù yêu nghề, dù luyến tiếc sản phẩm truyền thống, cũng đành chịu không làm được vì bài toán lợi nhuận mà…
- Không chỉ có men ngoại, mà hình như tôi thấy cửa hàng gốm của gia đình ông còn có cả hàng ngoại?
+ Quả là có chuyện đó. Đấy là hàng Trung Quốc. Hàng này mẫu mã đẹp, phong phú, nhiều sự lựa chọn, đáp ứng nhiều đối tượng khách hàng. Hàng Trung Quốc ở đây chiếm khoảng 1/3 số lượng chúng tôi bày bán. Còn lại là hàng nhập từ các nơi khác như gốm Bát Tràng, gốm Hải Dương, thậm chí hàng nhập tận các tỉnh phía nam. Hàng gốm địa phương sản xuất được chỉ chiếm một phần, chủ yếu là chậu cảnh, chum, hũ đựng nước, đựng rượu, tiểu sành…
- Chắc hẳn ông rất buồn lòng vì sản phẩm địa phương bị lép vế ngay trên sân nhà?
+ Buồn lắm chứ. Sao mà không phiền lòng cho được. Đông Triều ta có nguồn đất sét rất quý, với khả năng chịu lửa tốt lắm. Lại có nghề truyền thống tạo dựng mấy chục năm nay. Sản phẩm của chúng ta khi đó chẳng thua kém gì gốm từ các nơi khác. Thế mà… Giờ đây gốm của chúng ta lại lép vế. Hàng làm ra mẫu mã đơn giản, men thì nhập của bên ngoài nên giá bán không cạnh tranh được…
- Là người phụ trách kỹ thuật sản xuất gốm, theo ông do đâu mà dẫn đến tình trạng đó?
+ Như trên tôi đã nói, men của chúng ta tốt nhưng cầu kỳ khó làm. Công nghệ nung gốm của chúng ta lạc hậu. Đến giờ chúng ta vẫn nung bằng củi, bằng than. Nhiệt đưa lên và khói bụi cũng đưa lên luôn, sản phẩm làm sao mà sáng và đẹp như hàng Trung Quốc nung bằng ga, bằng điện được. Thêm nữa, đầu tư cho lò gốm bây giờ quả là quá sức với người thợ làng nghề. Muốn làm được anh phải có đất rộng, ít nhất cũng cỡ nghìn mét vuông. Phải có nhiều tiền để đầu tư dây chuyền hiện đại nữa. Thế nên, nhiều người dù rất yêu nghề cũng phải bỏ nghề. Tính ra, cả làng gốm bây giờ cũng chỉ còn vỏn vẹn gần chục lò thôi…
- Thưa ông, ông có sợ đến lúc mình phải bỏ nghề?
+ Tôi không sợ mà chỉ buồn. Giờ đây, già yếu rồi, sức khoẻ không cho phép nữa. Có 5 anh con trai đều được học nghề gốm cả nhưng rồi khó khăn quá, 4 anh bỏ nghề. Chỉ mỗi một đứa bám trụ, thì như tôi vừa nói, nó cũng phải bán kèm hàng lò mình làm ra với hàng khác, thậm chí cả hàng Trung Quốc! Còn chuyện bỏ nghề thì… đó là quy luật mà! Khi nào về với các cụ tôi cũng phải bỏ lại nghề cho con cháu chứ! Giờ còn sống, dù buồn vì nghề đã hết thời nhưng không nỡ từ bỏ và không thể từ bỏ được… Vẫn còn loanh quanh với đất sét, cao lanh, củi lửa, chum vại cho tuổi già đỡ buồn, anh ạ…
- Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này. Chúc ông mạnh khoẻ và có thêm những sản phẩm gốm đẹp.
Huỳnh Đăng (Thực hiện)