Cậu ký lục Phạm Đình Chỉnh đến nhận việc kế toán kiêm thông ngôn tại Sở Sacric (Công ty Lai dắt và sửa chữa tàu) của người Pháp tại Bãi Cháy từ những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX. Có được mảnh bằng Certificar - lớp ba thời ấy, cậu còn phải dự thêm một khoá học tiếng Tây để làm thông ngôn. Sự học của cậu Chỉnh cũng lắm gian nan vì phải theo bố mẹ đi làm việc ở nhiều nơi. Thời ấy kiếm được mảnh bằng đâu có dễ. Rời làng quê Hưng Thịnh, Bình Giang (Hải Dương) ra đất Mỏ kiếm kế sinh nhai, mọi thứ đều lạ lẫm. Ở làng quê, người nông dân chân lấm tay bùn, vất vả quanh năm, nhiều người không có ruộng chỉ đi cày thuê, cấy mướn, cũng chưa đủ ăn. Quanh năm sống trong luỹ tre làng dưới sự bóc lột của địa chủ, đời người nông dân từ đời cha cho đến đời con, khổ vẫn hoàn khổ. Ra Bãi Cháy lại thấy cảnh mấy anh cu li trong Sở Sacric cũng không khá gì hơn. Cảnh những người lao động chân dấn trong bùn để cạo gõ sơn, vá các con tàu để kịp theo nước thuỷ triều ở âu đà ngay ven bờ Bãi Cháy, nắng mưa nếm đủ “mùi đời” để rồi cuối tháng nhận chút lương còm về nuôi vợ con. Sự nhận biết ra nỗi khổ của người culi và người nông dân ngang nhau đã dấy lên trong tâm tưởng anh ký trẻ: Phải làm thế nào cho người lao động bớt khổ. Rồi hàng ngày chứng kiến lũ lính Tây nghênh ngang trên đoạn phố ngắn ở Bãi Cháy, coi khinh dân ta là dân nhược tiểu, dân thuộc địa thấp hèn, cũng dấy lên trong lòng cậu ký trẻ: Phải tìm cách thay đổi đi. Nhưng thay đổi cuộc đời này bằng cách nào?...
Các con của cụ Phạm Đình Chỉnh là ông Phạm Đình Bảo (nguyên Giám đốc HTX mua bán tỉnh), Phạm Đình Chương (nguyên Giám đốc Đài TT-TH Hạ Long) và Phạm Đình Chân (nguyên Hiệu trưởng Trường Đào tạo Sở Công Thương) đã kể về cuộc đời được cách mạng giác ngộ, tham gia cướp chính quyền ở Bãi Cháy trong Cách mạng Tháng Tám 1945, tham gia xây dựng, gắn bó với mảnh đất Hạ Long của cha mình.
…Ngày ấy, trong căn nhà nhỏ của gia đình chúng tôi ở một ngõ nhỏ gần chợ Bãi Cháy, thi thoảng có một số người lạ đến chơi. Các ông nói chuyện thì thầm. Còn tụi chúng tôi phải chơi ở ngoài cửa, hễ có ai đến thì vào thông báo ngay cho cha biết. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, chúng tôi mới biết, trong số những người đến nhà gặp bố chúng tôi có anh em ông Trịnh Tam Tỉnh và Trịnh Bá Nùng. Ông Tỉnh làm Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân kháng chiến Đặc khu Hòn Gai. Bố chúng tôi được bầu làm Trưởng Đoàn Thanh niên Cứu quốc Bãi Cháy và Chủ tịch UBND Cách mạng lâm thời Bãi Cháy, rồi làm Chủ tịch UBHC thị xã Bãi Cháy cho đến cuối năm 1946 thì bị giặc Pháp bắt.
Cha chúng tôi ba lần bị tù: Tù Nhật, tù Tàu Tưởng Giới Thạch rồi tù Pháp. Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp vào chiếm Bãi cháy. Bãi Cháy thời ấy còn nhỏ bé lắm, dân cư chỉ sống ven một dải đầu bến phà Bãi Cháy. Cho nên chuyện ông Chỉnh là Chủ tịch UBND Cách mạng lâm thời Bãi Cháy ai cũng biết, nên tụi Nhật biết, bắt ông lên thẩm vấn, rồi cho ngồi tù một thời gian. Đến khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh lại đến quân Tàu Tưởng vào giải giáp quân Nhật và quân Tàu tưởng lại bắt ông Chủ tịch Việt Minh Bãi Cháy. Rồi thực dân Pháp tái chiếm Bãi Cháy thì ông Chỉnh Việt Minh bị quân Pháp chính thức bắt giam. Tên quan ba Pháp cho mời ông Chủ tịch UBHC Bãi Cháy lên gặp và thông báo chính thức hai bên giao chiến, bên nào thắng thì độc chiếm Bãi Cháy. Ngày ấy LLVT của Việt Minh ở Bãi Cháy chỉ có khoảng hơn chục người, vũ khí chẳng có gì. Ông Chủ tịch Chỉnh thì mua được một khẩu súng lục Rơ-manh-tông, phòng vệ là chính. Còn tụi thanh niên “choai” chúng tôi ra bờ vịnh tại Cầu Mát - toà nhà 8 mái ở Bến phà Bãi Cháy đã bị phá khi xây bến phà, nhặt súng hỏng và đạn mà tụi lính Pháp vứt đi, về kỳ cọ lau dầu và sơn đen để đeo cho oai là chính, chứ không thể bắn được. Cuộc chiến không cân sức. Ông Chủ tịch Việt Minh Bãi Cháy bị bắt. Ông đã kịp dặn con trai cả Phạm Đình Bảo giấu súng đi để khi nào ra tù, đi theo kháng chiến có súng mà sử dụng. Khẩu súng vừa được giao cho ông Lạc, khi đó là Cảnh sát trưởng Bãi Cháy, núp dưới danh nghĩa thủ từ Đền Quan Sơn, thì tụi Pháp ập đến khám nhà, nhưng không thu được gì. Sau này khẩu súng đã bàn giao cho Bảo tàng Quảng Ninh làm hiện vật trưng bày.
Đây là giai đoạn cả gia đình chúng tôi phải chạy loạn, trốn khỏi Bãi Cháy để tránh sự truy lùng của Pháp. Chúng đã về tận quê hương Bình Giang Hải Dương truy hỏi ông nội chúng tôi. Chúng còn tuyên bố nếu bắt được đàn con của Việt Minh Chỉnh thì sau mỗi lần tra tấn lấy lời khai, nếu không khai ra đầu mối Việt Minh ở Bãi Cháy, sẽ bắn một đứa con để cảnh cáo. Mẹ tôi phải gánh mấy đứa con nhỏ trong thúng lẩn trốn qua các làng quê, có cả làng tề do địch kiểm soát và vùng du kích, vì thời gian này cuộc tranh chấp giữa ta và Pháp ở đồng bằng Liên khu 3 ở thế “da báo”. Tụi Pháp giam cha chúng tôi hết ở trong cái giếng cạn của Sở Kiểm lâm ở Bãi Cháy, lại đưa đi Hải Phòng và ra Cửa Ông suốt hai năm. Rất may là Việt Minh đã giải cứu, đưa cha chúng tôi xuống một con thuyền buôn do ông Vượng chèo thuyền đi qua ngay trước mắt đồn địch mà êm thấm.
Ra tù, cha chúng tôi được phân công làm Chủ tịch UBKCHC Hòn Gai thuộc tỉnh Quảng Hồng mới thành lập tại Hoành Bồ. Làm Chủ tịch được hai tháng, ông được điều động làm Phó Chủ nhiệm Chi nhánh tiếp tế vận tải Liên khu 3, đi học bổ túc lớp cán bộ chính quyền Liên khu Việt Bắc và là uỷ viên UBKCHC Đặc khu Hòn Gai Liên khu Việt Bắc, rồi tham gia cải cách ruộng đất đợt 5. Khu Mỏ giải phóng (25-4-1955), ông là uỷ viên UBHC khu Hồng Quảng, rồi làm Chủ tịch UBHC TX Hồng Gai trong 3 năm (1957-1960). Trước khi nghỉ hưu (tháng 3-1975), ông là Trưởng Ban KTCB tỉnh...
Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, những cán bộ cấp tỉnh như cụ Chỉnh đều được cấp đất để làm nhà. Nhưng cụ không nhận, để nhường cho các đồng chí khác. Đã có lần anh em chúng tôi hỏi cha về việc không nhận đất cấp, ông cười bảo: “Thôi, bố đã trót “đi tu” thì “tu” cho trọn đời”. Cha chúng tôi thường căn dặn các con: Phải chịu khó học tập để có kiến thức phục vụ cho xã hội chứ không được ỷ thế “con quan” mà đòi hỏi được vào công tác tại cơ quan này, xí nghiệp kia.
Cha chúng tôi bảo, kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời là năm 1952 ông được Bác Hồ trực tiếp tặng Huy hiệu của Người. Lần ấy, ông đi ngựa từ Hoành Bồ len lỏi qua các làng quê để lên Chiến khu Thái Nguyên Việt Bắc để nhận Huy hiệu theo thông báo của cấp trên. Trên đường đi, ông ghé qua quê nội. Mấy anh du kích xã thấy một anh người làng, rời quê hương từ lâu, nay xuất hiện, lại đi ngựa, có vẻ nghi vấn lắm. Trình bày mãi không được, ông đành xuất trình giấy triệu tập của Chiến khu mới được cho đi. Kỷ niệm lần gặp Bác ông không bao giờ quên. Đó cũng là nguồn động lực cho chúng tôi tiếp nối truyền thống cách mạng của gia đình đến hôm nay...
Nguyễn Gia Phong (CTV)
(Ghi theo lời kể của các con cụ Phạm Đình Chỉnh)