So với một số xã ở Bình Liêu, Vô Ngại chưa phải là xã nghèo nhất. Thế nhưng được “cận mục sở thị” cuộc sống người dân nơi đây, thấy còn không ít điều ái ngại...
Những điều trông thấy...
Chiếc xe ô tô chở gần 300 cơ số thuốc của Hội KHHGĐ tỉnh lắc lư bò qua những con dốc ngoằn ngoèo, nham nhở. Hai bên đường, những vai núi vạm vỡ bị vạt xiết để mở đường. Xe ủi, xe lu, ô tô tải… chạy như con thoi. Đoạn đường cũ ở con dốc Cô Tiên nhỏ như lưỡi mèo. Một bên là sườn núi sừng sững, một bên là vực thẳm. Ở đây, hễ có một chiếc xe tải đi ngược chiều là mọi người trong xe lại thon thót lo sợ. Đến xã Vô Ngại (huyện Bình Liêu) cũng đã hơn 9 giờ sáng, muộn gần 1 tiếng đồng hồ so với dự kiến. Bà con dân bản đã chờ sẵn ở trạm y tế xã từ sáng sớm. Mặc dù là một xã vùng cao với 98,2% là đồng bào dân tộc thiểu số, gồm: Tày, Dao, Hoa, Sán Chỉ, nhưng trong buổi sáng hôm đó không có lấy một phụ nữ nào khoác lên người trang phục truyền thống của dân tộc mình. Hỏi thì mấy chị, mấy cô cười, bảo: “Giờ khác xưa rồi, mặc váy đi rừng khó lắm, cứ mặc quần áo như người Kinh thôi!”…
Đoạn quốc lộ 18C đi qua trung tâm xã Vô Ngại cũng đang trong giai đoạn thi công. Đường đất bị máy ủi bốc xúc hình thành những hố lõm sâu, xe không qua được. Nhiều cán bộ xã phải gửi xe ở ngoài rồi đi bộ vào cơ quan. Thỉnh thoảng một vài ô tô, xe máy chạy qua, bụi tung lên mù mịt. Lá cây ven đường phủ một lớp bụi bạc phếch. Vài quán bán rau dưa đã mọc lên ngay khu vực trung tâm xã nhưng rất ít người mua. Thịt lợn phơi lên trên mặt bàn gần như vẫn còn nguyên từ sáng, bám bụi và đang bị ôi dần trong cái nắng khá oi bức ban trưa. Đến đầu giờ chiều thì chúng tôi mới gặp được đồng chí Phó Chủ tịch xã ở trụ sở Uỷ ban. Ngoài sân không có lấy một bóng cây xanh nên ánh nắng hắt thẳng vào phòng làm việc. Đồng chí Đinh Quang Phong, Phó Chủ tịch UBND xã đưa tôi xem bản báo cáo kết quả hoạt động 9 tháng, nhiệm vụ trọng tâm quý IV-2012 của xã. Bên cạnh những con số “đạt và vượt chỉ tiêu”, trong báo cáo cũng đã chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, như: Trồng cây dong riềng đạt kế hoạch thấp; vận động nhân dân mua giống mới còn hạn chế; chăn nuôi gia súc giảm (do người dân bán trâu, bò để mua máy cày); một số ít hộ đến ngày cuối hạn thi công quốc lộ 18C mới nhận tiền đền bù và tháo dỡ chưa hết diện tích làm ảnh hưởng tiến độ thi công v.v.. và v.v.. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: “Hiện nay, xã còn 402 hộ nghèo và cận nghèo, chiếm 45,22%, trong đó có 241 hộ nghèo, 161 hộ cận nghèo; mới chỉ có 2/19 tiêu chí là y tế và an ninh đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Cái khó nhất trong quá trình xoá đói giảm nghèo ở đây là trình độ dân trí thấp và tâm lý ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước…”.
Mặc dù nói chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên, nhưng qua cuộc khám, cấp phát thuốc miễn phí của Hội KHHGĐ hôm nay, thấy vẫn còn không ít phụ nữ trong xã mắc các bệnh viêm nhiễm phụ khoa do không chú ý chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Có người mang thai đến tháng thứ 7 mà chưa một lần đi siêu âm thai; nhiều chị em da dẻ xanh nhớt do lao động quá sức và ăn uống thiếu chất. Chúng tôi vào Nà Mô, một trong những bản được xem là điểm sáng của xã về Dân số - KHHGĐ, 12 năm liền không có trường hợp sinh con thứ 3. Bản cách trung tâm xã khoảng 3km. Bản Nà Mô có 18 hộ gia đình sống quây quần trong một thung lũng nhỏ. Nhà cửa lúp xúp mọc lên ven đồi, tĩnh mịch, yên bình nhưng khá buồn tẻ. Con đường vào bản mới được bê tông dở dang, phần còn lại vẫn lổn nhổn đá cuội như thách thức tài nghệ lái xe của anh cán bộ xã đi cùng. Ngay từ đầu bản đã ngửi rõ mùi ngai ngái phân trâu. Anh Trắng Văn Chìu, Trưởng bản, cho biết: “Ở đây 100% dân làm ruộng, rừng ít lắm, nhà nào có nhiều cũng chỉ được khoảng 3ha. Cày cấy xong, mùa khô thì đi làm thuê, ai siêng năng thì mỗi tháng cũng làm thuê được khoảng 10 ngày. Các xã khác nó hơn nhiều, chứ ở đây chưa có đường tốt, chưa có điện nên vất vả lắm”.
Để khắc phục khó khăn trong sinh hoạt, bà con dân bản phải lấy nguồn năng lượng thắp sáng từ những chiếc máy phát Trung Quốc loại nhỏ được đặt ở ngoài suối. Điện cũng chỉ đủ để thắp một vài cái bóng, một chiếc quạt loại nhỏ, nhà nào sang lắm thì có thêm chiếc ti vi Trung Quốc nhưng cũng chỉ để… nghe tiếng là chính bởi do yếu điện nên màn hình co lại chỉ rộng hơn bàn tay người lớn một chút. Ở khu vực giữa bản, lúa đang độ trổ bông le te. Ngọn lúa cháy vàng. Anh Chìu bảo: “Đây là giống lúa Bao Thai. Cứ trổ bông là như vậy chứ không phải là sâu bệnh gì đâu. Vụ này dân bản toàn trồng loại này, năng suất thì cũng được khoảng… 50kg/sào!”. Đang nói chuyện, anh vội vàng chạy về lùa con lợn đang sổng vào chuồng vì vợ anh đang đi rừng lấy củi và làm rẫy, không có ai trông nhà...
Tranh nhau để được... nghèo!
Gia đình anh Trắng Văn Chìu mỗi năm nuôi được vài con lợn để bán, mấy con gà hay chục con cà sáy phục vụ cho dịp giỗ, tết; còn trâu thì nuôi để lấy sức cày kéo. Bố mẹ anh mất sớm, anh phải nuôi các em rồi lần lượt dựng vợ gả chồng cho chúng. Ngôi nhà gia đình anh đang ở, một nửa được chia cho vợ chồng người em trai. Hai gia đình nhỏ với 8 con người sống trong căn nhà chỉ có một bộ bàn ghế xoàng xĩnh đặt ở gian giữa, vài cái giường cũ kỹ… Trên mái nhà thấy vẫn còn nguyên mấy lỗ thủng mà tôi chắc nếu trời mưa, chủ nhà hẳn sẽ phải bê hết xoong, chậu ra để hứng nước. Ấy thế nhưng nhà anh Chìu không phải thuộc hộ nghèo đâu. “Bản này có 3 hộ được công nhận là hộ nghèo. Nhà tôi chỉ là cận nghèo thôi” - Anh Chìu nói và trong ánh mắt anh, tôi rất ngạc nhiên bởi nó toát lên sự ghen tị, giống như 3 hộ đó “gặp may mắn” hơn gia đình mình vậy!
- Xem ra anh cũng muốn nhà mình là… hộ nghèo lắm nhỉ? - Tôi hỏi bâng quơ.
- Muốn chứ - Anh Chìu trả lời ngay. Nhưng thấy chúng tôi cười, anh vội “chữa cháy”: “-Là nói được công nhận hộ nghèo ấy! Chứ nghèo thật thì ai lại muốn…!”.
Hiện nay, mỗi hộ nghèo ở đây đều được Nhà nước hỗ trợ rất nhiều khoản, từ tiền dầu thắp sáng, tiền trợ cấp khó khăn, tiền và gạo ăn Tết, hỗ trợ tiền học cho con, khám chữa bệnh miễn phí, còn được cho vay vốn lãi suất thấp, được hỗ trợ tiền xây nhà, cải thiện nhà ở và nhiều chính sách ưu đãi khác. Vô hình chung, hỗ trợ của Nhà nước đã trở thành một “miếng bánh ngon” mà người dân ai cũng muốn được hưởng một chút. Từ đó hình thành nên tính ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của trên. Một cán bộ chính sách xã Vô Ngại cho hay: “Cứ mỗi cuộc họp thôn bình xét hộ nghèo là y như rằng nẩy sinh “khẩu chiến” giữa các gia đình. Nhà nào cũng muốn được là hộ nghèo. Và sau khi đã là “hộ nghèo” rồi thì tìm mọi cách để giữ “danh hiệu” đó, bằng cách khai giảm thu nhập trong phiếu điều tra… Thậm chí có người còn tị nạnh nhau với lý do “nhà nó được nghèo rồi thì phải đến lượt nhà tao nghèo chứ!”, dẫn đến to tiếng, chửi nhau om sòm trong cuộc họp. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết nội bộ thôn bản, thậm chí một số người còn mất tình anh em. Cũng có trường hợp, do ngại va chạm nên thiếu tinh thần đấu tranh dẫn đến việc một số hộ khá giả vẫn nằm trong danh sách hộ nghèo…”.
Anh cán bộ chính sách xã còn cho biết thêm: “Hiện nay, các mẫu biểu về quy trình điều tra để triển khai chính sách xoá đói giảm nghèo khá phức tạp. Trong khi đó, trình độ của cán bộ thôn bản nhiều người học vấn chưa hết bậc Tiểu học nên gặp không ít khó khăn”.
Song song với chính sách hỗ trợ trực tiếp, việc đào tạo nghề giúp người dân thoát nghèo bền vững cũng chưa thực sự mang lại hiệu quả cao. Từ đầu tháng 9 năm nay, xã đã tổ chức được thêm 2 lớp học nghề là thợ nề và kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm; mỗi lớp 35 học viên. Những người đi học không những có thêm kiến thức mà còn được hỗ trợ 15.000 đồng/người/buổi học. Mặc dù số lượng người học đông nhưng sau khi được đào tạo nghề, chủ yếu người dân chỉ lấy kiến thức đó để tự phục vụ trong gia đình, rất ít người lấy đó làm nghề kiếm sống lâu dài. Ở Vô Ngại có nghề nuôi ong; từ đầu năm đến nay cả xã vẫn ổn định và duy trì được 150 tổ, vượt kế hoạch năm. Tuy nhiên, mô hình nuôi ong lai (50 tổ) thì hiệu quả rất thấp, ong chết do không thích nghi được với môi trường. Qua đó cho thấy, việc trồng cây gì, nuôi con gì, làm nghề gì để giúp người dân thoát nghèo rất quan trọng. Những mô hình đưa vào áp dụng thử nghiệm nhưng cũng cần có sự tính toán kỹ lưỡng để phù hợp với thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu, tập quán của người dân địa phương. Đây thực sự là một bài toán khó đối với một xã vùng cao thuộc diện 135 như Vô Ngại…
Nói vậy để thấy cái gì cũng đều có tính hai mặt, có mặt tích cực lại có mặt tiêu cực. Trong việc hỗ trợ người dân thoát nghèo cũng vậy! Nên chăng, thay vì hỗ trợ “miếng bánh ngon” cho một số hộ nghèo, hãy đầu tư phát triển mạnh hơn nữa vào các công trình phúc lợi xã hội để tất cả mọi người dân đều được hưởng. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu hướng dạy nghề phù hợp, tăng cường xây dựng các mô hình mẫu để người dân biết và làm theo. Còn nếu cứ đà này, không biết đến bao giờ người dân nơi đây mới khá lên được. Thật là đáng ngại thay cho Vô Ngại…
Phương Thuý