Hải Lạng là vùng trọng điểm nuôi tôm của huyện Tiên Yên. Với ưu thế tự nhiên về địa hình, nguồn nước thuận lợi, vùng nuôi tôm này hiện có trên 400 hộ dân đang nuôi trồng, chiếm trên 30% tổng dân số toàn xã và trên 1.000 lao động; trung bình mỗi năm đạt tổng sản lượng gần 300 tấn tôm, doanh thu đạt trên dưới 30-35 tỷ đồng. Theo đánh giá của giới chuyên môn, vùng nuôi tôm Hải Lạng sẽ đạt giá trị cao hơn nhiều so với hiện nay nếu được đầu tư cải thiện về hạ tầng vùng nuôi.
Bà Bùi Thị Thơ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Hải Lạng, cho biết: Hải Lạng xác định nuôi tôm là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của địa phương. Gần chục năm qua, từ một số nguồn vốn, vùng nuôi tôm trên địa bàn đã được đầu tư tuyến đường dân sinh kết hợp với sản xuất dài 6,5km, tải trọng thiết kế 9,5 tấn; thực hiện lắp đặt 6 trạm điện sản xuất, góp phần tạo điều kiện cho người nuôi tôm. Tuy nhiên tuyến đường chỉ mới đến chân vùng nuôi và nhiều đoạn đã xuống cấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân trong việc vận chuyển thiết bị, vật tư phục vụ cho đầu tư phát triển khu nuôi trồng thủy sản. Riêng lưới điện sản xuất mới phủ được 1 phần diện tích nuôi và dòng điện khá yếu, các hộ nuôi phải chia thời gian để sử dụng, tránh sập lưới điện của toàn vùng.
Ngoài những khó khăn kể trên, qua tìm hiểu thực tế vùng nuôi cho thấy hiện nay các tuyến đường nội đồng của vùng nuôi đều là đường đất, vào các ngày mưa không bảo đảm việc đi lại. Nguồn nước sản xuất đang được các hộ lấy vào và tiêu thoát ra chung một hệ thống là 5 cống trên đê. Tuy nhiên do vị trí thấp, một số cống đã xuống cấp, năng lực cấp, thoát hạn chế nên khi mưa to, mực nước dâng kết hợp triều cường có thể gây nguy hiểm cho vùng nuôi trồng.
Chính vì thiếu các công trình hạ tầng cơ bản như điện, đường, hệ thống cấp thoát nước... nên hiện vùng nuôi tôm xã Hải Lạng mới chỉ phát huy được một phần giá trị. Theo thống kê của Phòng NN&PTNT, đến thời điểm này, toàn vùng mới chỉ có 48ha nuôi tôm công nghiệp, với 79 hộ nuôi, chiếm chưa tới 5% về tổng diện tích và 20% về số hộ nuôi của toàn vùng; chiếm 12% diện tích có thể nuôi tôm công nghiệp trong vùng nuôi. Phần diện tích rộng lớn còn lại đều nuôi theo hướng quảng canh tự nhiên. Trong khi đó, sản lượng, giá trị nuôi tôm theo quy mô công nghiệp cao hơn rất nhiều so với nuôi tôm quảng canh.
Theo thống kê của xã Hải Lạng, mỗi năm, nếu nuôi tôm quảng canh cho sản lượng 5 tạ/ha, giá trị khoảng 70 triệu đồng, trong khi đó nuôi tôm công nghiệp có thể đạt sản lượng ít nhất 150 tạ/ha, giá trị gần 2 tỷ đồng. Điều đáng nói, trong hơn 1.000ha vùng tôm Hải Lạng còn có đến 420ha được các đơn vị chuyên môn xác định phù hợp nuôi tôm công nghiệp, đã được xã Hải Lạng quy hoạch thành vùng nuôi tôm công nghiệp tập trung, song đến giờ chưa phát huy được.
Anh Nguyễn Bá Hương, một người nuôi tôm trong vùng cho biết: Tôi đã nuôi tôm tại đây hàng chục năm, hiện tự tin là có kinh nghiệm và vốn, hoàn toàn có khả năng mở rộng đầu tư về quy mô và theo hướng công nghiệp. Thế nhưng tình hình hạ tầng sản xuất còn thiếu và yếu nhiều quá, nhất là điện sản xuất tại vùng nuôi quá yếu, không đảm bảo. Mà đây lại là yếu tố rất quan trọng trong nuôi tôm công nghiệp khiến tôi không dám làm.
Còn anh Vũ Đức Thành, một hộ nuôi khác thì cho biết: Thực tế đặc thù của nuôi tôm công nghiệp là mật độ nuôi dày, trung bình 110-135 con/m2, nên cần thiết phải có điện để vận hành hệ thống sục khí, cung cấp ô xi cho tôm. Để đảm bảo điều này, chúng tôi luôn sẵn sàng phát máy phát điện phòng khi mất điện, tuy nhiên chi phí rất cao, ngoài tiền đầu tư thiết bị với hàng trăm triệu đồng còn mất khoảng 300.000 đồng/h chạy máy phát, như vậy đầu tư cho con tôm quá cao mà vẫn đảm bảo.
Trao đổi với chúng tôi, ông Lục Văn Long, Phó Phòng NN&PTNT huyện Tiên Yên, cho biết: Để phát huy tiềm năng, thế mạnh của trên 1.000ha nuôi tôm xã Hải Lạng, nâng cao năng suất, giảm dịch bệnh, đảm bảo an toàn môi trường nuôi, thuận tiện cho việc thâm canh, hình thành vùng nuôi tôm công nghiệp với quy mô lớn... thì vùng nuôi tôm tập trung này cần phải được đầu tư, cải thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Trong đó từ nhiều hình thức huy động vốn cần đầu tư tuyến đê có nhiệm vụ ngăn mặn cho khu vực nuôi kết hợp đường giao thông; các tuyến giao thông nội đồng. Bên cạnh đó, cần đầu tư hệ thống thoát nước thải, một số cống lấy nước vào ao chứa và cống tiêu. Đặc biệt cần hoàn thiện hệ thống điện sản xuất cho vùng nuôi, với nhu cầu trước mắt bổ sung trạm và đường dây cấp điện cho trạm biến áp cũng như đường dây về từng hộ nuôi trồng.
Việt Hoa