Tham gia thảo luận về dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, tại phiên làm việc ngày 5/11, kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Quảng Ninh cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật thay thế Pháp lệnh năm 2007, nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác quản lý, bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ với Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, đại biểu tập trung góp ý vào ba nhóm vấn đề liên quan đến hạn chế dự án đầu tư nước ngoài, thẩm quyền và thời hạn cho ý kiến của cơ quan Công an đối với dự án đầu tư; cơ chế phối hợp bảo vệ công trình tại khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng.
Về hạn chế dự án của nhà đầu tư nước ngoài trong khu vực bảo vệ và hành lang bảo vệ công trình an ninh, khu an ninh (Điều 20), đại biểu cho rằng dự thảo đang quy định theo hướng cấm thực hiện dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong khu vực bảo vệ; đồng thời giao Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với mọi dự án của các chủ thể này trong hành lang bảo vệ. Tuy nhiên, tiêu chí hạn chế hiện chủ yếu dựa trên nguồn vốn đầu tư, chưa thực sự gắn với mức độ rủi ro an ninh của từng dự án, loại công trình và phạm vi khu vực chịu tác động.
Theo đại biểu, khái niệm tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có phạm vi khá rộng, bao gồm cả những doanh nghiệp Việt Nam chỉ có tỷ lệ nhỏ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, nếu áp dụng cơ chế cấm tuyệt đối hoặc tập trung toàn bộ thẩm quyền quyết định lên Thủ tướng Chính phủ sẽ cần được cân nhắc kỹ, đối chiếu với quy định của pháp luật về đầu tư, các cam kết quốc tế và yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước.
Đại biểu nhấn mạnh, vấn đề này có ý nghĩa thực tiễn đối với những địa phương có nhiều cảng biển, khu kinh tế, khu du lịch ven biển và khu vực biên giới như Quảng Ninh. Đây là những địa bàn có yêu cầu cao về bảo đảm quốc phòng, an ninh, song cũng có nhiều tiềm năng, lợi thế và nhu cầu thu hút các nguồn lực đầu tư trong nước, quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, quy định của Luật cần bảo đảm kiểm soát chặt chẽ các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia nhưng không tạo ra những hạn chế quá rộng, gây tác động không cần thiết đến môi trường đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Từ phân tích trên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu giới hạn đối tượng tổ chức kinh tế thuộc diện áp dụng theo hướng chỉ bao gồm những tổ chức phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài theo pháp luật về đầu tư; đồng thời xác định rõ phạm vi áp dụng theo từng loại công trình an ninh, khu an ninh. Đối với các dự án trong hành lang bảo vệ, cần phân nhóm theo tiêu chí, danh mục, quy mô và mức độ ảnh hưởng đến an ninh để có cơ chế kiểm soát phù hợp. Việc quyết định dự án nên được xem xét trên cơ sở lấy ý kiến về an ninh của cơ quan Công an có thẩm quyền trong quá trình thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thay vì áp dụng một cơ chế chung cho tất cả các trường hợp.
Đối với thẩm quyền, thời hạn cho ý kiến, đồng ý của cơ quan Công an đối với dự án đầu tư (Điều 20 và Điều 30), đại biểu cho rằng dự thảo hiện quy định mọi dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trong hành lang bảo vệ đều phải được Bộ Công an đồng ý bằng văn bản, nhưng chưa phân biệt theo quy mô, loại công trình và chưa xác định cụ thể thời hạn trả lời. Trong khi đó, quy định tại khoản 1 Điều 30 yêu cầu lấy ý kiến Bộ Công an khi thẩm định chủ trương đầu tư đối với cả công trình loại I, loại II và loại III.
Đại biểu phân tích, theo quy định tại khoản 3 Điều 22, công trình loại III do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định đưa vào Danh mục trên cơ sở thẩm định của Công an cấp tỉnh. Như vậy, việc tiếp tục yêu cầu Bộ Công an tham gia cho ý kiến đối với tất cả các loại công trình chưa thực sự tương ứng với thẩm quyền quản lý, phân cấp đã được xác định trong dự thảo Luật. Mặt khác, mặc dù cơ quan soạn thảo giải trình đây là thủ tục nội bộ giữa các cơ quan nhà nước, không làm phát sinh thủ tục hành chính mới, nhưng trên thực tế, thời gian chờ ý kiến của cơ quan có thẩm quyền vẫn được tính vào quá trình chuẩn bị dự án, có thể ảnh hưởng đến tiến độ triển khai đầu tư.
Để khắc phục những bất cập này, đại biểu đề nghị sửa đổi khoản 1 Điều 30 theo hướng Bộ Công an cho ý kiến đối với công trình loại I, loại II; Công an cấp tỉnh nơi có công trình cho ý kiến đối với công trình loại III, bảo đảm thống nhất với nguyên tắc phân cấp tại Điều 21. Đồng thời, cần phân cấp thẩm quyền đồng ý đối với dự án đầu tư trong hành lang bảo vệ tại điểm a khoản 3 Điều 20 theo từng loại công trình an ninh, khu an ninh, phù hợp với tính chất, mức độ quan trọng và phạm vi ảnh hưởng của công trình.
Đặc biệt, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc việc cho ý kiến, chấp thuận của cơ quan Công an phải được tích hợp và thực hiện trong thời hạn giải quyết các thủ tục đầu tư, xây dựng có liên quan, không phát sinh thành một thủ tục độc lập. Quy định rõ nội dung này sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, rút ngắn thời gian xử lý công việc, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu kiểm soát an ninh ngay từ khâu chuẩn bị dự án.
Về phối hợp bảo vệ công trình ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng (Điều 35), đại biểu thống nhất với ý kiến của các đại biểu đã phát biểu trước đó về việc không nên luật hóa quá chi tiết các nội dung phối hợp, thực hiện theo nguyên tắc tại Nghị quyết số 66-NQ/TW và giao các lực lượng liên quan xây dựng quy chế phối hợp cụ thể. Đối với công trình lưỡng dụng, cần bảo đảm sự thống nhất với quy định của Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng Điều 35 hiện mới tập trung quy định cơ chế phối hợp trong giai đoạn đầu tư, vận hành công trình và ứng phó với các nguy cơ như tấn công mạng, tàu bay không người lái; chưa đề cập rõ cơ chế phối hợp đối với các công trình nằm ở khu vực biên giới, biển, đảo hoặc công trình lưỡng dụng như cảng biển, sân bay, công trình viễn thông dùng chung. Đây là những địa bàn, công trình có tính chất đặc thù, thường có nhiều lực lượng cùng tham gia hoạt động, quản lý và bảo vệ như Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan quân sự địa phương và chính quyền cơ sở.
Theo đại biểu, nếu không có những nguyên tắc phối hợp thống nhất trong Luật, việc tổ chức thực hiện tại các địa phương có thể thiếu đồng bộ, nhất là trong xác định trách nhiệm của từng lực lượng khi phát sinh nguy cơ đe dọa, sự cố hoặc tình huống khẩn cấp. Vì vậy, dù không đề nghị quy định chi tiết phương án phối hợp đối với từng loại công trình, đại biểu vẫn cho rằng cần xác lập những nội dung mang tính nguyên tắc, làm căn cứ để các lực lượng xây dựng quy chế và tổ chức thực hiện thống nhất.
Đại biểu đề nghị bổ sung một khoản vào Điều 35 theo hướng: Đối với công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia ở khu vực biên giới, biển, đảo và công trình lưỡng dụng, lực lượng bảo vệ của Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, cơ quan quân sự địa phương và UBND các cấp xây dựng phương án phối hợp bảo vệ, trao đổi thông tin, xử lý tình huống và tổ chức diễn tập. Các nội dung cụ thể về cơ chế, phương thức phối hợp được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 35.