Chiều 5/11, tại phiên thảo luận tổ về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026–2035 (Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI), đại biểu Quốc hội thành phố Quảng Ninh Lê Trọng Hòa (Đại tá, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố) cơ bản tán thành sự cần thiết của Chương trình, đồng thời đề nghị phân bổ vốn theo mức độ nguy cơ và làm rõ tiêu chí địa bàn không có ma túy.
Đại biểu cho rằng, việc tích hợp hai nhiệm vụ phòng, chống ma túy và phòng, chống tội phạm trong một chương trình mục tiêu quốc gia là phù hợp, góp phần tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh và xử lý tội phạm. Từ góc độ quốc phòng, an ninh và thực tiễn địa phương, đại biểu Lê Trọng Hòa tập trung góp ý hai vấn đề: nguyên tắc phân bổ nguồn lực cho các địa bàn đặc thù và xây dựng địa bàn không có ma túy thực chất, bền vững.
Về nguyên tắc phân bổ nguồn lực, đại biểu thống nhất với định hướng ưu tiên ngân sách Trung ương cho các địa bàn trọng điểm, phức tạp về ma túy và tội phạm; địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách. Tuy nhiên, cần nghiên cứu bổ sung tiêu chí đánh giá nguy cơ tội phạm, nhất là đối với địa bàn biên giới, cửa khẩu, vùng biển, hải đảo và các tuyến giao thương quốc tế.
Theo đại biểu, việc đánh giá nguy cơ không thể chỉ căn cứ vào số vụ án được phát hiện, số đối tượng bị bắt giữ hay số người nghiện được thống kê. Đối với tội phạm xuyên quốc gia, một địa bàn có thể là nơi tổ chức vận chuyển, trung chuyển hoặc tiêu thụ ma túy, trong khi các hoạt động này không nhất thiết diễn ra trong cùng một địa giới hành chính. Địa bàn phát hiện ít vụ án chưa chắc đã có nguy cơ thấp; ngược lại, số vụ án được phát hiện nhiều cũng có thể phản ánh năng lực nắm tình hình, phát hiện và đấu tranh của lực lượng chức năng.
Liên hệ thực tiễn thành phố Quảng Ninh với đặc điểm có biên giới đất liền, cửa khẩu quốc tế, vùng biển, hải đảo và hệ thống cảng biển, đại biểu cho rằng hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, vận tải, du lịch và giao lưu quốc tế vừa tạo động lực phát triển kinh tế, vừa đặt ra yêu cầu cao đối với công tác bảo đảm an ninh trật tự, phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy phân bổ nguồn lực chủ yếu theo số vụ việc đã xảy ra sang phân bổ theo mức độ nguy cơ, yêu cầu nhiệm vụ và khả năng phòng ngừa tội phạm.
Đại biểu đề nghị Chính phủ xây dựng bộ tiêu chí phân bổ vốn với các chỉ số định lượng, công khai, có thể kiểm chứng, tập trung vào bốn yếu tố: Mức độ nguy cơ và tính chất phức tạp của tội phạm trên từng tuyến, địa bàn; đặc điểm địa lý biên giới, cửa khẩu, vùng biển, hải đảo và hoạt động giao thương; năng lực phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh hiện có và những điều kiện còn thiếu cần bổ sung; hiệu quả sử dụng nguồn lực đã đầu tư và khả năng duy trì kết quả sau đầu tư. Trên cơ sở đó, đề nghị chỉnh lý điểm a khoản 4 Điều 1 dự thảo Nghị quyết theo hướng bổ sung nguyên tắc phân bổ vốn căn cứ vào mức độ nguy cơ tội phạm, đặc thù địa bàn và yêu cầu nhiệm vụ, chú trọng các địa bàn biên giới, cửa khẩu, vùng biển, hải đảo có nguy cơ cao về tội phạm ma túy và tội phạm xuyên quốc gia.
Đối với mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 50% số xã, phường, đặc khu trên toàn quốc không có ma túy, đại biểu đánh giá đây là chỉ tiêu thể hiện quyết tâm cao, song cần làm rõ phương pháp đánh giá và điều kiện bảo đảm thực hiện. Quan trọng không chỉ là số lượng địa bàn được công nhận mà phải bảo đảm địa bàn thực sự không có ma túy và duy trì được kết quả bền vững. Cần phân biệt rõ giữa địa bàn không có ma túy trên thực tế với địa bàn chưa phát hiện được ma túy; tránh tình trạng đặt nặng chỉ tiêu, tạo áp lực thành tích, ảnh hưởng đến việc phát hiện, rà soát và báo cáo đầy đủ tình hình.
Đại biểu đề nghị xây dựng tiêu chí công nhận, duy trì địa bàn không có ma túy rõ ràng, thống nhất, có thể kiểm chứng; phân biệt kết quả phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm với kết quả quản lý người nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy và người sau cai nghiện. Đồng thời, cần có cơ chế rà soát, đánh giá định kỳ, bảo đảm kết quả công nhận phản ánh đúng thực tế.
Đặc biệt, đại biểu nhấn mạnh cần coi giảm nhu cầu sử dụng ma túy và phòng ngừa tái nghiện là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với tính bền vững của địa bàn không có ma túy. Công tác phòng, chống ma túy không thể chỉ tập trung vào phát hiện, xử lý tội phạm mà cần gắn với cai nghiện, quản lý sau cai, hỗ trợ học nghề, tạo việc làm và tái hòa nhập cộng đồng. Bởi nếu người sau cai nghiện không có việc làm, thiếu thu nhập và sự hỗ trợ của gia đình, cộng đồng thì nguy cơ tái nghiện vẫn còn. Do đó, hỗ trợ sinh kế, tạo điều kiện ổn định cuộc sống cho người sau cai nghiện không chỉ là chính sách xã hội mà còn là giải pháp phòng ngừa tội phạm lâu dài.
Một nội dung được đại biểu đặc biệt quan tâm là gắn xây dựng địa bàn không có ma túy với củng cố “thế trận lòng dân”, nhất là tại khu vực biên giới, biển đảo. Theo đại biểu, nhân dân vừa là đối tượng được bảo vệ, vừa là chủ thể trực tiếp tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự. Khi người dân tin tưởng chính quyền và lực lượng chức năng, họ sẽ chủ động cung cấp thông tin về tội phạm; gia đình, nhà trường và cộng đồng cùng tham gia giáo dục, phòng ngừa thanh thiếu niên bị lôi kéo vào ma túy; người sau cai nghiện được tạo điều kiện học nghề, lao động, ổn định cuộc sống và không bị kỳ thị. Đại biểu khẳng định, một địa bàn chỉ thực sự an toàn khi người dân có cuộc sống ổn định, tin tưởng vào chính quyền, chủ động tham gia phòng ngừa tội phạm và có trách nhiệm với cộng đồng. Đối với khu vực biên giới, biển đảo, việc kết hợp phát triển kinh tế, chăm lo sinh kế với phòng, chống tội phạm còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân.
Liên quan đến trách nhiệm tổ chức thực hiện, đại biểu thống nhất với chủ trương phân cấp cho cấp xã quản lý, tổ chức thực hiện chương trình phù hợp với năng lực và điều kiện thực tiễn. Tuy nhiên, trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ về phòng ngừa tội phạm, quản lý địa bàn, phối hợp quản lý người nghiện ma tuý và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, nếu chỉ giao nhiệm vụ, giao chỉ tiêu mà không bảo đảm nhân lực, kinh phí, cơ sở vật chất và hướng dẫn chuyên môn thì sẽ khó đạt kết quả thực chất.
Đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 4 Điều 4 dự thảo Nghị quyết theo hướng xác định rõ việc phân cấp cho cấp xã phải đi đôi với bảo đảm nguồn lực, hướng dẫn chuyên môn, cơ chế phối hợp, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, đánh giá kết quả chương trình không chỉ bằng số địa bàn được công nhận không có ma túy mà cần tính đến hiệu quả phòng ngừa tái nghiện, kết quả tái hòa nhập cộng đồng và mức độ an toàn thực chất của từng địa bàn.