Chế biến lâm sản ở Hoành Bồ: Nghịch lý với tiềm năng

Hoành Bồ là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp tương đối lớn (chiếm 70% diện tích tự nhiên). Những năm qua huyện đã có chủ trương đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng và khai thác các sản phẩm từ rừng. Với những tiềm năng như vậy rất thuận lợi cho nghề chế biến lâm sản phát triển. Tuy nhiên, lợi thế đó vẫn đang là bài toán loay hoay tìm lời giải khi mà lĩnh vực chế biến lâm sản phát triển còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa tương xứng với tiềm năng của huyện.

Chế biến dăm gỗ tại Doanh nghiệp tư nhân Xuân Trường (Hoành Bồ).
Chế biến dăm gỗ tại Doanh nghiệp tư nhân Xuân Trường (Hoành Bồ).

Với lợi thế diện tích đất tự nhiên phần lớn là đất rừng, lâm nghiệp được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Hoành Bồ. Vì vậy ngoài việc giao đất, giao rừng cho người dân trồng, quản lý và bảo vệ rừng, nhiều dự án trồng rừng mới cũng được triển khai trên toàn huyện. Riêng năm 2012, toàn huyện đã trồng được 2.102ha, nâng tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện đạt 63%; khai thác gỗ rừng trồng đạt 50.000m3. Với cách làm này, không chỉ diện tích đất trống, đồi núi trọc trên địa bàn huyện ngày càng được thu hẹp mà đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên, nhiều hộ gia đình giàu lên chính từ những cánh rừng này. Tận dụng các lợi thế về nguồn nguyên liệu, lao động, những năm qua các cấp, ngành trên địa bàn huyện đã quan tâm thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư, xây dựng các nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên rừng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống cho người trồng rừng, một số doanh nghiệp đã đầu tư vào lĩnh vực chế biến lâm sản chủ yếu là chế biến dăm gỗ. Theo thống kê của huyện Hoành Bồ, hiện nay trên địa bàn huyện có 7 doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực này. Sự có mặt của các doanh nghiệp, cơ sở chế biến lâm sản mang lại nhiều ý nghĩa về kinh tế - xã hội cho huyện. Hiện các cơ sở chế biến lâm sản đã giải quyết việc làm cho gần 100 lao động, trong đó chủ yếu là lao động địa phương, với thu nhập bình quân khoảng 3-4 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, việc khai thác và tiêu thụ gỗ rừng trồng, tạo động lực để hộ trồng rừng tái đầu tư và phát triển rừng trồng chất lượng cao hơn.

Tuy nhiên, theo đánh giá của các cơ quan chức năng, hầu hết các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn huyện có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, sản phẩm chủ yếu là đồ mộc dân dụng và các sản phẩm sơ chế phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa, giá trị chế biến thấp. Bên cạnh đó, một số cơ sở sản xuất chế biến vừa nhỏ lẻ lại xen lẫn trong khu dân cư gây khó khăn trong việc xử lý vấn đề môi trường, vận chuyển hàng hoá... Điều này đã và đang gây ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của lĩnh vực này. Một vấn đề khác ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bền vững của các cơ sở chế biến lâm sản, đó là hiện nay huyện chưa hình thành vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng tập trung gắn với sản xuất chế biến. Gỗ rừng trồng có trữ lượng và chất lượng thấp, vùng nguyên liệu dàn trải, manh mún, chủ yếu là sản phẩm gỗ nhỏ, sử dụng vào công nghệ băm dăm là chính, sản phẩm gỗ lớn ít, không đáp ứng được nhu cầu chế biến đồ mộc. Diện tích rừng có trữ lượng giàu, trung bình phân bố chủ yếu ở những nơi vùng sâu, vùng xa, hệ thống giao thông kém phát triển, đời sống nhân dân còn khó khăn.

Để ngành chế biến lâm sản trên địa bàn phát triển đồng bộ, ổn định, bền vững, đem lại hiệu quả kinh tế cao, cần bảo đảm cung cấp đủ nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến. Đồng thời có chính sách ưu tiên phát triển đối với những cơ sở có vùng nguyên liệu ổn định, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến lâm sản. Để thực hiện được điều đó, thiết nghĩ, các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, chế biến lâm sản phải có sự liên kết chặt chẽ, huy động được nguồn vốn để mở rộng quy mô, đầu tư có chiều sâu đưa công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, chế biến.

Trang Thu

Cùng chuyên mục