Chi trả dịch vụ môi trường rừng: Lợi ích lớn

Ngày 24-9-2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Theo đó, các bên sử dụng DVMTR phải chi trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR sẽ phải trả tiền DVMTR tính bằng 1 - 2% doanh thu thực hiện trong kỳ. Các cơ sở sản xuất thuỷ điện, mức chi trả 20đ/Kwh điện thương phẩm; các cơ sở sản xuất nước sạch 40đ/m3 nước thương phẩm. Cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản cũng phải trả tiền DVMTR...

Với hơn 310.000ha rừng, Quảng Ninh là một trong những địa phương có diện tích rừng, độ che phủ rừng lớn trong cả nước. Xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 3696/UBND-NLN2 ngày 19-9-2011 về Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ mang lại hiệu quả lớn cho phát triển nghề rừng. Trong ảnh: Cán bộ Sở NN&PTNT kiểm tra công tác bảo vệ rừng tại Vân Đồn.
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sẽ mang lại hiệu quả lớn cho phát triển nghề rừng. Trong ảnh: Cán bộ Sở NN&PTNT kiểm tra công tác bảo vệ rừng tại Vân Đồn.

Chính sách chi trả DVMTR là định hướng đổi mới quan trọng. Để chính sách này có thể triển khai rộng trên cả nước, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2284/QĐ-TTg ngày 13-12-2010 về việc phê duyệt Đề án “Triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24-9-2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR” và Bộ NN&PTNT cũng ban hành một số Thông tư hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả DVMTR.

Theo đó, UBND tỉnh phân công nghiệm vụ cụ thể cho các ngành; thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về thực hiện Nghị định 99 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh, xây dựng quy chế hoạt động cụ thể của Ban chỉ đạo; thành lập tổ giúp việc cho Ban chỉ đạo để đẩy nhanh tiến độ thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, Ban Chỉ đạo về thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang tích cực phối hợp với đơn vị tư vấn lập Đề cương - dự toán Đề án triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012-2015; xây dựng Đề án thành lập quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh…

Đồng thời để đẩy nhanh việc triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh, Ban chỉ đạo của tỉnh đang tiếp tục thực hiện các nội dung, phần việc quan trọng như: Thành lập Quỹ bảo vệ phát triển rừng của tỉnh, xây dựng quy chế hoạt động, tổ chức, điều lệ của quỹ; rà soát, xác định đối tượng chi trả, đối tượng được hưởng nguồn chi trả DVMTR, cơ chế quản lý nguồn chi trả; xác định phạm vi, ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng và đất các khu rừng có cung ứng các dịch vụ môi trường. Cùng với đó xác định và thống kê các cơ sở sản xuất thuỷ điện, nước sạch, du lịch có trụ sở trên địa bàn hoặc ngoài địa bàn tỉnh nhưng có sử dụng DVMTR từ các khu rừng trên địa bàn tỉnh phải chi trả tiền dịch vụ môi trường; điều tra, xác định sản lượng nước thương phẩm, điện thương phẩm của từng công ty có sử dụng DVMTR; xây dựng đề án khoán bảo vệ rừng, giao rừng và đất lâm nghiệp… để thông qua đó thực hiện nhiệm vụ uỷ thác thu, chi tiền DVMTR của bên sử dụng cho bên cung ứng DVMTR theo quy định tại Nghị định 99 của Chính Phủ.

Theo đánh giá của ngành chức năng, chính sách chi trả DVMTR được triển khai thực hiện được xem là cơ chế nhằm thúc đẩy việc tạo ra và sử dụng các dịch vụ môi trường bằng cách kết nối người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ. Chính sách này sẽ mang lại lợi ích kinh tế thiết thực cho người bảo vệ rừng, góp phần tăng cường công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Thông qua chính sách này sẽ tạo ra mối liên kết mang tính bền vững giữa người sử dụng và người cung ứng DVMTR. Các chủ rừng, người bảo vệ rừng cũng thông qua đó hiểu được giá trị DVMTR do mình tạo ra để trở thành hàng hoá và thấy được trách nhiệm và quyền lợi của việc cung ứng dịch vụ. Người sử dụng dịch vụ phải chi trả tiền và nhận thức được việc đầu tư bảo vệ rừng chính là đầu tư vào sản xuất, là sự bền vững của các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi, khu du lịch sinh thái và nước sạch phục vụ cho sản xuất và đời sống của con người.

Thực hiện chính sách chi trả DVMTR sẽ là bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm là 3 vấn đề cơ bản về môi trường, kinh tế và xã hội, góp phần giảm thiểu mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt. Chính sách này sẽ tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và sẽ tăng cường sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa đơn vị chủ rừng với chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng bền vững cũng như trong việc phòng chống các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép.

Hữu Việt

Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24-9-2010 của Chính Phủ bao gồm 5 chương, 25 điều, quy định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam, gồm: Các loại dịch vụ môi trường rừng được bên sử dụng dịch vụ chi trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng được quy định tại Nghị định này; các bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng; quản lý và sử dụng việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng; quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các ngành đối với việc thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Theo đó môi trường rừng bao gồm các hợp phần của hệ sinh thái rừng: thực vật, động vật, vi sinh vật, nước, đất, không khí, cảnh quan thiên nhiên. Môi trường rừng có các giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, gọi là giá trị sử dụng của môi trường rừng, gồm: bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng chống thiên tai, đa dạng sinh học, hấp thụ và lưu giữ các bon, du lịch, nơi cư trú và sinh sản của các loài sinh vật, gỗ và lâm sản khác. Dịch vụ môi trường rừng là công việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ được quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này. Chi trả dịch vụ môi trường rừng là quan hệ cung ứng và chi trả giữa bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng.

Rừng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các khu rừng có cung cấp một hay nhiều dịch vụ môi trường rừng theo quy định, gồm: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất.

Loại dịch vụ môi trường rừng được quy định trong Nghị định này gồm: bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản.

Nguyên tắc chi trả dịch vụ môi trường rừng: Tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng của các khu rừng tạo ra dịch vụ đã cung ứng. Thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng bằng tiền thông qua hình thức chi trả trực tiếp hoặc chi trả gián tiếp. Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng là tiền của bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng uỷ thác cho Quỹ để trả cho các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng dịch vụ môi trường rừng và không thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật.

Đối tượng và loại dịch vụ phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng: Các cơ sở sản xuất thuỷ điện phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối; về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thuỷ điện. Các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất nước sạch. Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch. Các đối tượng phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thuỷ sản.

Đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng: Các đối tượng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là các chủ rừng của các khu rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng, gồm: Các chủ rừng là tổ chức được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận theo đề nghị của Sở NN&PTNT; các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được Nhà nước giao do UBND cấp huyện xác nhận theo đề nghị của cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước; hợp đồng nhận khoán do bên giao khoán và bên nhận khoán lập, ký và có xác nhận của UBND cấp xã.

Quế Ninh

Cùng chuyên mục