Để tăng cường nguồn vốn về khu vực nông nghiệp, nông thôn, từ cuối năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 63/QĐ-TTg về Chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thuỷ sản. Theo chính sách này, hàng ngàn hộ nông dân khu vực nông nghiệp nông thôn của tỉnh có thể vay được nguồn vốn giá rẻ. Tuy nhiên, đã hơn 3 năm trôi qua, trên địa bàn tỉnh vẫn chưa phát sinh dư nợ cho các khoản vay này.
Theo nội dung Quyết định 63/QĐ-TTg, ngân sách nhà nước sẽ thực hiện hỗ trợ lãi suất vốn vay thương mại đối với các khoản vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn bằng đồng Việt Nam để mua máy, thiết bị nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp. Mức vay tối đa để mua các loại máy, thiết bị đã được quy định bằng 100% giá trị hàng hoá; hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay trong hai năm đầu, 50% trong năm thứ ba. Đối tượng được hưởng hỗ trợ gồm: Các hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân phải được UBND cấp xã xác nhận là đối tượng trực tiếp sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt, chế biến nông sản, thuỷ sản; dịch vụ cơ giới nông nghiệp; các doanh nghiệp có ký kết thực hiện hợp đồng liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản, dịch vụ cơ giới hoá với tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc nông dân. Các loại máy, thiết bị đã quy định phải là máy, thiết bị mới, chất lượng phù hợp tiêu chuẩn công bố theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hoá...
Mặc dù vậy, sau hơn 3 năm triển khai, theo thống kê của NHNN Chi nhánh Quảng Ninh vẫn chưa phát sinh dư nợ nằm trong chính sách này. Theo lãnh đạo NHNN Chi nhánh Quảng Ninh cho biết, do có điểm “vướng” trong chính sách khiến cho người dân ở địa phương không thể tiếp cận dòng vốn. Đơn cử như trong quyết định có một quy định yêu cầu các đối tượng phải mua máy móc thiết bị do các tổ chức, cá nhân sản xuất có giá trị sản xuất trong nước trên 60% và phải nằm trong danh mục hàng hoá được hỗ trợ do Bộ NN&PTNT công nhận. Trong khi theo thống kê cả nước có khoảng 44 doanh nghiệp sản xuất các loại máy móc thiết bị này, riêng phía Bắc thì chỉ có… 4 doanh nghiệp. Chưa kể đến việc người nông dân làm thế nào nhận biết được máy móc có 60% giá trị sản xuất trong nước. Chính vì những vướng mắc này mà thay vì hàng ngàn nông dân được tiếp cận nguồn vốn giá rẻ thì đến nay nguồn vốn này vẫn “giậm chân tại chỗ” ở Quảng Ninh.
Qua khảo sát của chúng tôi tại nhiều khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh, các hộ nông dân đều khẳng định: Không thể nào tiếp cận được vốn giảm tổn thất sau thu hoạch. Ngoài việc khó khăn tìm máy móc, nông cụ sản xuất nội địa thì chất lượng của các loại máy này không bền so với máy ngoại nhập, dễ hỏng hóc (trong khi thời gian sử dụng máy lại theo vụ và cần phải bảo trì thường xuyên); về giá thì hàng sản xuất nội địa lại đắt hơn so với sản phẩm của Trung Quốc, việc tìm phụ tùng thay thế cũng khó khăn…
Được biết, để tháo gỡ khó khăn cho người nông dân khi tiếp cận vốn vay ưu đãi, tháng 11-2013, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg để thay thế cho Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg ngày 2- 12- 2011 về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông sản, thuỷ sản. Quyết định 68 đã có hiệu lực từ ngày 1-1-2014. Điểm mới trong chính sách này là ngoài hỗ trợ cho các máy móc thiết bị nông nghiệp sản xuất trong nước, Chính phủ đã đồng ý bổ sung một số thiết bị máy móc nhập khẩu theo đề xuất của Bộ NN&PTNT. Các loại máy móc, thiết bị phải bảo đảm có nhãn hàng hoá theo quy định. Đối với máy móc, thiết bị ngoại nhập phải là máy mới, chưa qua sử dụng, có đầy đủ hồ sơ nhập khẩu hợp lệ, xuất xứ rõ ràng và được công bố giá bán theo từng thời điểm. Còn đối với máy móc, thiết bị của nước ngoài lắp ráp tại Việt Nam phải công bố tiêu chuẩn áp dụng, giá bán theo từng thời điểm.
Hi vọng với các nội dung sửa đổi này, người dân khu vực nông nghiệp nông thôn của tỉnh sớm có cơ hội tiếp cận dòng vốn giá rẻ để đẩy mạnh phát triển sản xuất. Song song với đó, thiết nghĩ, các địa phương cần sớm đề xuất với tỉnh những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai cơ chế chính sách hỗ trợ cho người nông dân.
Hồng Nhung