Mỏ Vàng Danh. Lúc ấy hơn 9 giờ sáng. Huấn, làm ở Đài Truyền thanh mỏ và Phong, cán bộ Phòng An toàn đưa tôi đi chui lò. Lãnh đạo Than Vàng Danh bảo: Giờ này nên đi Đ1, đến được chỗ công nhân làm việc là gần hơn cả. Nhưng cũng khó khăn đấy, đường lò giếng hút sâu, tới gần một cây số, đi xuống thì chùn chân, lúc lên thì mỏi gối, xuống đến lò bằng còn phải đi tiếp nữa, cũng không ngắn đâu, không biết vị khách này có đủ sức không. Tóc đã bạc trắng cả rồi...
Huấn đi trước dẫn đường, Phong đi sau bảo vệ, tôi bước vào lò giếng khu Cánh Gà của Phân xưởng Đ1. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi thấy lò giếng rất to (có tiết diện đến 24m2), to nhất so với các lò giếng của các mỏ hầm lò khác trong Vinacomin mà tôi đã có dịp chui. Nó còn mới, sử dụng còn ít nên khá sạch sẽ. Nhìn lò, tôi thấy những người thợ làm ra nó tỏ ra rất lành nghề, lò trông rất chắc chắn và chỉn chu.
Phải đến 800 bậc, mỗi bậc cách nhau khoảng 50cm, lát bằng gạch, cứ thấp dần, hút sâu xuống (từ dương 130m sâu xuống tới âm 50m). Mặc dù giếng đã được lắp các bóng đèn nê ông phòng nổ, đủ sáng để không cần ánh sáng đèn lò vẫn đi được, song mũ chúng tôi vẫn bừng sáng ánh đèn, để bước đi rõ hơn. Đi được già nửa, quả nhiên, chân tôi bắt đầu chùn, bước đi dần chuyển sang thập thõm. Hỏi Huấn, Phong mấy lần sắp đến lò bằng chưa, cứ thấy bảo sắp đến, mà mãi không thấy. Tự dưng tôi lo sợ cho lúc lên, dốc thế này, dài thế này, lại không đi được bằng tời trợ lực, thì lên thế nào đây? Tai quái lại nghĩ đến mấy câu thơ của ông Lê Đức Thọ khi ông muốn lên chốt Khau Chỉa trên đỉnh núi hồi chiến tranh biên giới: "Tôi nhớ buổi chiều anh cõng tôi lên/ Thương tôi yếu không thể nào leo hết dốc/ Mỗi bước anh đi tôi đếm từng nhịp thở/ Hơi ấm lưng anh toả ấm cả lòng tôi/ Khau Chỉa đây rồi, anh nở nụ cười tươi...". Giá lúc lên được ai cõng nhỉ? Và sao anh lính lại cười được nhỉ? Hết hơi, tôi đã tưởng như hết hơi khi leo lên. Càng gần đến nơi càng nghỉ liên tục, có lúc bước được dăm sáu bậc lại phải dừng lại nghỉ. Thật khó mà cười được, nếu có, chắc là méo xệch, bởi khi đó mồm, mũi, cả tai nữa, đang tranh nhau thở.
Cuối cùng cũng đến được lò bằng. Đứng nghỉ một chút, tôi thấy chân mình rung rung, soi đèn xuống, mới biết là do bị chồn, chân đang run. À, mỏi gối, chồn chân hóa ra là thế này đây. Chỉ cho Phong, Phong cười. Thoáng trong ý nghĩ xuất hiện câu thơ của Hồ Xuân Hương. Bà Hồ Xuân Hương là giỏi thần tình, bà đay cánh đàn ông: "Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo!", trong cái chuyện trèo "Đèo Ba Dội"!...
Đi theo lò bằng một lúc lâu thì trông thấy ánh đèn. Một nhóm công nhân đang làm việc. Họ dùng máy khoan tay chọc xuống nền lò để khoan bẩy đất đá, rồi lấy cuốc chim gạy lên, sau đó dùng xẻng xúc lên các toa goòng. Anh Tư, một người trong nhóm thợ tạm dừng tay khi tôi hỏi. Anh bảo các anh đang làm nhiệm vụ xúc dọn nền đường cho các đường dọc vỉa và xuyên vỉa. "Công việc cũng bình thường. Thu nhập cũng... bình thường" - Tư trả lời thanh thản.
Và đây, đến ngã ba có biển mũi tên chỉ đường đi dọc vỉa âm 50 và xuyên vỉa âm 50. Chúng tôi rẽ vào xuyên vỉa âm 50, nơi có nhóm thợ khác đang làm việc. Nhóm thợ ở đây có 8 người. Các anh người đang khoan các lỗ mìn trước gương đá, người đang chèn chắc lại chân vì kèo, người đang chuẩn bị nối dài đường goòng áp vào gương. Một người thợ, anh Cường, cho biết, với đường lò xuyên vỉa có tiết diện 17,4m2 như thế này, khoan bắn mìn mỗi lần khoảng từ 45 đến 50 lỗ khoan; mỗi ca đi được khoảng 1,4m. "Nếu điều kiện địa chất ổn định, công việc tiến hành bình thường; gặp trường hợp địa chất không ổn định, làm việc có khó khăn hơn". Nhìn gương đá các anh đang khoan, mặt cắt khá phẳng, tôi thắc mắc, có phải xén sau khi bắn mìn? "Không! Mình khoan các lỗ khoan có độ dài bằng nhau, khi bắn mìn xong, gương đá đã phẳng như thế". Thấy các anh người nào việc nấy, nhịp nhàng làm, không ai phải nhắc ai, tôi thầm cảm phục những người thợ lò nơi đây. Tôi mời các anh chụp một kiểu ảnh kỷ niệm trước gương đá. Các anh có vẻ e ngại đùn đẩy nhau. Cuối cùng thì ánh đèn flash cũng có dịp loé lên. Khi về xem lại ảnh, tôi chỉ thấy một tình cảm dâng trào: Quần áo bảo hộ của các anh - những người thợ lò - dày là thế mà mồ hôi đã ra ướt sũng, mặc dù lúc đó còn hơn nửa thời gian nữa mới hết ca làm việc.
Khu Cánh Gà, hay còn gọi là khu Tây Vàng Danh vừa mới nói trên, chỉ là một trong hai khu sản xuất của mỏ. Còn một khu nữa - khu Đông Vàng Danh, hay còn gọi là khu Giếng Vàng Danh, mà theo Huấn và Phong, chắc chắn có những điều hay ho khác, như đi song loan trong lò, khai thác than bằng công nghệ hiện đại: dàn chống Vinaalta và khấu than bằng máy chẳng hạn, đã hấp dẫn tôi chui lò tiếp vào ngày hôm sau. Sáng hôm sau, chúng tôi đi sớm "để kịp đi song loan trong lò". Lúc xuống lò từ giếng phụ, chúng tôi chỉ gặp vài công nhân đang cùng đi xuống, trong đó có mấy vị chuyên gia người nước ngoài. Sau này được biết, họ là người Séc, người Nga, người Ba Lan... Họ là người do Công ty Vinaalta thuê, hướng dẫn công nhân ta làm việc với máy khấu than và dàn chống hiện đại. Đến một ngã ba trong lò không xa giếng phụ là mấy, Huấn, Phong bảo tôi dừng ở đây để chờ đi song loan. Các chuyên gia cũng đứng chờ ở đây. Và chẳng bao lâu sau, mới thấy lực lượng thợ lò Than Vàng Danh thật hùng hậu. Sau khi giao ca xong, họ nườm nượp tiến vào. Rất nhanh, họ đã đến đứng gần như chật cả ngã ba. Không biết là bao nhiêu, nhưng thấy đông lắm. Thợ lái song loan cho biết, có 3 đoàn xe để chở, nên mọi người bình tĩnh, đảm bảo chở đủ, không sót ai. Song loan, tạm hình dung như một toa tàu điện loại nhỏ, có 2 cửa lên xuống hai bên, phải cúi người mới chui vào được. Trong toa bố trí 3 cặp ghế, cứ 2 cái quay mặt vào nhau, mỗi ghế đủ chỗ cho 3 công nhân ngồi (đấy là với người Việt ta, với người Tây, ngồi 3 người sẽ chật). 3 cặp ghế, mỗi cặp có 6 người ngồi quay mặt vào nhau, toàn toa chở được 18 người. Tuỳ lượng người vào làm việc, các đoàn tàu song loan sẽ ghép nối nhiều hoặc ít toa. Thật thi vị, song loan chạy trong hầm lò, Phong cố ý dọi đèn ra bên ngoài cho tôi ngắm cảnh những đường lò: những xà, những chèn, những vách bê tông loang loáng lướt qua. Và có cả gió mát nữa chứ, tuy không nhiều, nhưng cũng bớt ngột ngạt. Trên hết là tiếng loạch xoạch, loạch xoạch, "bạc mày, bạc tao" của bánh xe sắt nghiến xuống đường ray đều đều, qua những chỗ nối, cứ có cảm tưởng như đang đi trên chuyến tàu tốc hành xuyên Việt vậy.
Nếu không có song loan, đoạn đường lò ấy, công nhân phải cuốc bộ mất nửa tiếng. Đó là không kể, từ một ngã ba khác, bến đỗ cuối của đoàn song loan hôm ấy, chúng tôi phải cuốc bộ thêm gần nửa tiếng nữa mới tới đường lò khai thác bằng dàn chống Vinaalta. Dàn chống Vinaalta, nhìn thấy một dãy sắt thép thật đồ sộ. Bắt ánh đèn loang loáng trắng hàng cột thép to, nối tiếp nhau. Các bản sắt của các cánh tay sắt nặng nề chen nhau, nằm sát cạnh nhau che chắn tạo thành vòm mái lò. Phía đối diện là một gương than phẳng, được tạo bởi máy khấu than đang sừng sững đứng đó. Nó có cái lưỡi xén tròn, to đùng, sắc nhọn những răng, trông giống một lưỡi cưa tròn khổng lồ...
Hôm nay Phân xưởng KT11 đang huy động lực lượng công nhân cùng với các chuyên gia làm việc ở đường lò vận tải phía dưới. Họ đang làm công tác chuyển diện - chuyển máy móc, thiết bị vận tải để tạo diện mới cho dàn và máy khấu làm việc trong 4-5 tháng tới. "Chúng tôi cố gắng, dự định đến ca 1 ngày mai thì chuyển diện xong, đưa dàn và máy khấu trở lại làm việc bình thường" - Phó quản đốc cho biết. Nhìn các thiết bị vận tải nặng nề, kềnh càng, dài ngoẵng, lại trong đường lò chật hẹp, trơn trượt sung sũng nước, các công nhân và chuyên gia làm việc chật vật, tôi không thể hình dung ca 1 ngày mai có thể xong. "Chúng tôi tập trung thợ khai thác, thợ cơ điện vào làm. Chuyển cụm điện, chuyển cầu chuyển tải, chuyển máy đập, cắt ngắn băng tải số 2, nối dài băng tải số 1 ra... Nhiều việc đấy, nhưng ca 1 mai là xong...".
Anh Huấn cho biết, Vàng Danh hiện có khoảng 5.700 CNCB. "Cứ cho một số mắc bận họp hành, phép tắc, ốm đau và chuyện khác nữa, mỗi ngày Than Vàng Danh phải có tới 5.400 người làm việc. Anh thấy Vàng Danh thế nào?" - Huấn vừa trò chuyện vừa hỏi tôi. Thú thực, tôi không hình dung ra hàng ngàn người làm việc, lại tương đối tập trung dưới hầm lò sẽ như thế nào. Nhưng rõ ràng ở đây, những gì được chứng kiến, tôi thấy thợ mỏ Vàng Danh làm việc cứ tăm tắp, tăm tắp, người nào việc nấy, như một dòng chảy không ngừng nghỉ, không bị ách tắc hay va vấp. Để mới thấy kỷ luật thợ mỏ nơi đây là rất nghiêm, công việc được giao rất cụ thể, ai cũng biết việc của mình. "Mình thấy nhịp sống của thợ mỏ Vàng Danh diễn ra khá bình thản, chính xác hơn, là bình tĩnh. Với người khai thác than hầm lò, giữ được nhịp điệu bình thản, không căng thẳng, lúc nào cũng như lúc nào, thật đáng quý. Sự bình thản (bình tĩnh) ấy là biểu hiện của một bản lĩnh vững vàng, một nét văn hóa doanh nghiệp đặc trưng, được hun đúc qua thời gian, trải qua nhiều thế hệ kỷ luật và đồng tâm mới tạo lập được". Tôi diễn đạt ý mới loé lên trong đầu như thế với Huấn về người thợ Vàng Danh, không biết có trúng không.
Buổi trưa, đang ngồi ăn cơm, đúng lúc này, Đài Truyền thanh của mỏ ca vang lên bài hát trầm hùng và đẹp của nhạc sĩ Trần Chung viết về thợ mỏ Vàng Danh: Khi chúng tôi vào lò: Vàng Danh ơi! Vàng Danh... Hai tiếng thân yêu gọi ta tha thiết. Tiếng mìn, tiếng choòng... Lắng nghe bước chân chúng tôi đang vào lò..., nghe da diết và xao xuyến lạ kỳ.
Trần Giang Nam