Thời gian qua, công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, tạo điều kiện cho các tổ chức được thuê đất rừng; nâng cao ý thức của người dân trong công tác trồng và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, công tác này cũng bộc lộ rất nhiều những tồn tại, hạn chế.
Cấp giấy chậm, giao chồng lấn
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, tổng diện tích đất rừng toàn tỉnh có 388.393,64ha, trong đó đất rừng sản xuất là 241.072,15ha; đất rừng phòng hộ 122.064ha; đất rừng đặc dụng 25.258ha. Với việc tổ chức thực hiện tốt công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nên tỷ lệ che phủ rừng của toàn tỉnh tính đến hết năm 2011 đạt 51%. Tỉnh đã hoàn thành việc quy hoạch 3 loại rừng, xác lập các khu rừng phòng hộ, đặc dụng, sản xuất trong phạm vi quản lý của địa phương sau khi được phê duyệt tổ chức phân loại rừng; xác định ranh giới các loại rừng. Đến nay về cơ bản rừng và đất rừng ở Quảng Ninh đã có chủ quản lý. Ngoài rừng và đất rừng đã giao cho các Ban quản lý rừng phòng hộ đặc dụng, các doanh nghiệp lâm nghiệp do Nhà nước quản lý, tỉnh đã tuỳ vào điều kiện quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương ưu tiên giao một phần diện tích rừng và đất lâm nghiệp cho các cá nhân, hộ gia đình với hạn mức cho phép và một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh quản lý và sử dụng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 8 công ty lâm nghiệp, 11 ban quản lý rừng phòng hộ và 24 doanh nghiệp, tổ chức đang quản lý sử dụng đất lâm nghiệp với tổng diện tích 185.011,33ha. Tất cả các công ty lâm nghiệp, các doanh nghiệp và các tổ chức đều đã có quyết định giao đất, cho thuê đất của UBND tỉnh, riêng các ban quản lý rừng phòng hộ thì hầu hết chưa có quyết định giao đất (mới chỉ có 1 ban quản lý rừng phòng hộ đã được cấp giấy). Tuy nhiên, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) lâm nghiệp cho các tổ chức còn chậm, mới đạt 47,4% diện tích cần cấp. Trong đó, tổ chức, doanh nghiệp đã được cấp giấy là 22/24 với diện tích 22.042,57ha. Đối với đất lâm nghiệp giao cho các hộ dân, hiện nay có 40.144 hộ được giao quản lý, sử dụng đất rừng với diện tích 140.544,47ha. Việc cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp cho các hộ dân cũng mới chỉ đạt 55,23%.
Đặc biệt, trong quá trình giao đất trồng rừng đã có sự chồng lấn giữa các doanh nghiệp, tổ chức, ban quản lý rừng và với người dân dẫn tới một số vụ tranh chấp đất đai. Đơn cử như: Vụ tranh chấp đất đai giữa Công ty TNHH MTV Innovgreen và các hộ dân thôn Bản Danh, xã Hà Lâu (Tiên Yên) và Ban Quản lý rừng phòng hộ Tiên Yên; Công ty Than Vàng Danh tranh chấp với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Uông Bí...
Nguyên nhân vì sao?
| QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN RỪNG Với 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh là rừng và đất rừng, nguồn tài nguyên được coi là “vàng xanh” này đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của tỉnh. Ngoài chức năng phòng hộ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ môi trường, làm đẹp cảnh quan cho các di sản thiên nhiên của thế giới, còn là nơi cung cấp nguồn lâm sản rất lớn cho ngành công nghiệp khai thác than, nguyên liệu sản xuất dăm mảnh xuất khẩu, gỗ xây dựng cơ bản và nhiều lâm đặc sản có giá trị kinh tế khác. |
Theo lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường và Sở NN&PTNT, hiện nay trên địa bàn tỉnh đang tiến hành Dự án thành lập bản đồ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp theo Quyết định số 672/TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Nhất là trong công tác giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân trong những năm trước đây do nhiều cơ quan thực hiện, thiếu sự quản lý thống nhất, hồ sơ lưu trữ không đầy đủ. Trước đây khi giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân cơ quan kiểm lâm sử dụng bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 làm cơ sở để giao đất do đó độ chính xác không cao, hình dạng, ranh giới thửa đất giữa sơ đồ giao đất và thực địa khác nhau, ranh giới đất giữa các chủ sử dụng đất trên thực địa chưa được xác định rõ ràng, do đó đã phát sinh nhiều tranh chấp. Các công ty lâm nghiệp được giao đất với diện tích lớn, nhiều điểm ranh giới đất được giao khó xác định trên thực địa, do đó chính công ty cũng không quản lý được ranh giới đất công ty được giao dẫn đến tình trạng người dân sống ở khu vực giáp ranh đã sử dụng chồng lấn với đất của công ty lâm nghiệp. Nhiều hộ dân chiếm đất để trồng rừng, do đó việc cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp giáp ranh với đất của công ty lâm nghiệp gặp khó khăn do chưa giải quyết được tranh chấp về đất đai.
Thực hiện Quyết định số 4903/2007/QĐ-UBND tỉnh về quy hoạch lại 3 loại đất rừng thì một số hộ dân trước đây được giao đất rừng sản xuất nay theo quy hoạch 3 loại rừng thì diện tích được giao nằm trong quy hoạch rừng phòng hộ và ngược lại. Trong các trường hợp này việc xử lý tài sản rừng trước khi cấp giấy CNQSDĐ gặp nhiều vướng mắc do khi chuyển từ rừng sản xuất sang rừng phòng hộ và chuyển từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất, chế độ và rừng khác nhau đã ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.
Còn vì sao có sự chồng lấn về diện tích khi giao đất, giao rừng đó là do một số đơn vị chưa có hồ sơ giao đất, việc xác định mốc giới ngoài thực địa đối với các đơn vị đã được giao đất hầu như chưa được thực hiện. Cùng với đó, việc theo dõi biến động đất lâm nghiệp trong thời gian qua còn nhiều hạn chế. Đất lâm nghiệp đã được giao cho các doanh nghiệp, các đơn vị quân đội trồng rừng nhưng khi trả lại cho địa phương hoặc bị thu hồi bởi các dự án khác đã không làm thủ tục chỉnh lý lại quyết định giao đất và giấy CNQSDĐ theo quy định, dẫn đến việc quản lý đất trên giấy tờ và thực tế có sự khác biệt, khó theo dõi quản lý. Mặt khác, việc giao đất trước kia còn sơ sài, bản đồ giao đất không theo hệ toạ độ chuẩn và không có mốc cắm ngoài thực địa. Đất sử dụng qua thời gian dài đã có nhiều biến động dẫn đến việc quản lý đất đai trên thực tế có nhiều khó khăn. Nhiều dự án được giao đất trồng rừng nhưng tiến độ thực hiện dự án quá chậm. Một số tổ chức được giao quản lý diện tích rừng tự nhiên nhưng còn để xảy ra tình trạng khai thác lâm sản trái phép. Đặc biệt, các công ty lâm nghiệp khi giao khoán đất cho các hộ dân trồng rừng không quản lý chặt chẽ dẫn đến việc các hộ dân sử dụng đất sai mục đích theo hợp đồng, không trồng rừng mà tự ý san gạt sử dụng vào mục đích khác hoặc để cho các đối tượng vào thăm dò, khai thác than trái phép...
Giải pháp trước tiên từ quy hoạch
Để có thể quản lý hiệu quả tài nguyên rừng và đất rừng theo đề xuất của các ngành chuyên môn trước tiên cần phải xây dựng quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020. Khi xây dựng quy hoạch cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành liên quan như Tài nguyên và Môi trường, NN&PTNT cùng với các ngành khác để có những quy hoạch lồng ghép, tránh chồng chéo, phù hợp với quy hoạch của từng địa phương cũng như quy hoạch chung của tỉnh. Có sự phân cấp cụ thể về công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp đối với các ngành, các cấp trên địa bàn. Khi giao và cho thuê rừng các ngành liên quan cần có sự phối hợp rất chặt chẽ để xác định được chất lượng, trữ lượng, vốn rừng để giao, gắn trách nhiệm của các chủ rừng khi được giao hoặc cho thuê rừng.
Thời gian qua rất nhiều địa phương đã có kiến nghị về việc các đơn vị, doanh nghiệp lâm nghiệp trên địa bàn được giao diện tích rừng và đất lâm nghiệp nhiều nhưng sử dụng không hết dẫn đến sự thắc mắc, tranh chấp của người dân trên địa bàn. Chính vì vậy cần tiếp tục có sự rà soát lại các diện tích rừng và đất rừng của các tổ chức, doanh nghiệp không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả, các diện tích rừng trước đây là rừng phòng hộ, đặc dụng nay sau rà soát quy hoạch 3 loại rừng là rừng sản xuất để bàn giao lại cho các địa phương quản lý và tiến hành lập phương án giao đất, giao rừng cho các hộ dân để sản xuất.
Trang Thu
| 2015 tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 53,5%. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đề ra toàn tỉnh phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ che phủ rừng đạt 53,5%. Được biết tính đến hết năm 2011 tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đạt 51% (tính cả diện tích rừng trồng chưa khép tán trong 3 năm), trong đó diện tích rừng trồng đã có rừng là 170.064,8ha. Với sự tham gia tích cực của các chủ dự án, các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng thôn, bản chắc chắn đến năm 2015 toàn tỉnh sẽ hoàn thành mục tiêu đã đề ra về độ che phủ rừng. Lan Hương |