Cách đây 4 năm, tôi công tác tại Bảo tàng Hải quân. Nghe tin ông Vũ Đăng Khoa, cựu chiến binh Đoàn tàu không số hiện sống ở tỉnh Quảng Ninh còn lưu giữ một kỷ vật của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tặng sau một chuyến chở hàng vào Bến Tre, tôi vội tìm đến nhà ông…
Tháng 2-1964, Vũ Đăng Khoa cùng 60 thanh niên Hòn Gai xung phong nhập ngũ và được điều về Quân chủng Hải quân. Những chàng tân binh trẻ được đưa ngay về tàu huấn luyện tại chỗ rồi nhận công tác vận chuyển vũ khí vào miền Nam ở Đoàn 759 (sau này là Đoàn 125 Hải quân). Vũ Đăng Khoa được điều về Tàu 67, một trong những con tàu vỏ sắt đầu tiên của Đoàn tàu không số do ta sản xuất. Ông kể:
- Chuyến đi đó của Tàu 67 vào khoảng trung tuần tháng 10-1964. Chúng tôi, cánh lính mới tò te miền Bắc, chiếm gần nửa quân số trên tàu, hầu hết đều mới nhập ngũ. Sau một ngày đêm ra khơi, thấy tình hình thời tiết vẫn gió bão, lại có tin tàu địch đang tuần tra, Thuyền trưởng Tư Nguyên báo cáo cấp trên và được phép cho tàu cập cảng Duy Linh (Trung Quốc). Cùng "tạm trú'' ở Duy Linh với Tàu 67 còn có Tàu 54 của Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng (người Cà Mau) và Tàu 69 của Thuyền trưởng Nguyễn Hữu Phước (người Cần Thơ). Mấy ngày sau tình hình thời tiết có vẻ êm êm, Tàu 67 lại lên đường. Hành trình trên biển hơn một tuần thì Tàu 67 vào đến vùng biển Trà Vinh - Bến Tre. Sắp vào được bến thì tàu lại bị mắc cạn. Lúc này là 3 giờ sáng. Nước vẫn chưa lên. Bí thư Chín Phước lại triệu tập cuộc họp chi bộ khẩn cấp và ra nghị quyết: Chính trị viên kiêm bí thư chi bộ và đồng chí máy trưởng Dũng ở lại canh tàu, còn tất cả anh em trên tàu phải lên bờ và tìm cách liên lạc với bến. Tôi đề nghị được ở lại để tăng cường lực lượng chiến đấu, trong trường hợp chưa cần thiết phải hủy tàu. Chính trị viên Chín Phước chấp nhận cho tôi ở lại.
Tôi và Trần Văn Hữu (hiện là Chủ tịch Hội truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển toàn quốc) hạ chiếc xuồng nhỏ từ tàu xuống nước rồi đưa mọi người lần lượt vào bờ. Trời bắt đầu sáng, cũng là lúc anh em vào bờ an toàn. Ngồi trên boong tàu, lúc này 3 anh em mới nhìn rõ cảnh vật xung quanh. Hóa ra đây là vùng giáp ranh giữa ta và địch, tuy đất Bến Tre nhưng gần Trà Vinh. Cái bãi tàu mắc cạn chính Cồn Lợi, doi cát vùng cửa biển Thạnh Phong (Thạnh Phú- Bến Tre). Trên Tàu 67 lúc này chỉ còn 3 anh em đều mặc quần áo bà ba màu đen, râu ria lởm chởm nên trông vừa giống những ngư dân miền Nam đi biển về lại vừa giống cánh dân vệ trong này. Tôi lấy cờ "ba que" của địch treo lên cột cờ rồi tiếp tục mang ngư cụ, lưới đánh cá ra vá, rải phơi đầy boong. Động thái này đã lừa được mấy tên dân vệ lảng vảng trên bờ và mấy chiếc máy bay tuần tra trinh sát.
Chiều hôm đó nước vẫn chưa lên. Phía bến vẫn không có động tĩnh gì. Phải đến tối, anh em đã lên bờ mới liên lạc được với bến. Thế là trong đêm tối, du kích, quân dân ở bến, có đến hàng trăm người lội ra chỗ tàu mắc cạn vận chuyển hết số vũ khí lên bờ rồi mang cất giấu ở một nghĩa trang xa làng. Nhiệm vụ chuyển vũ khí đã được hoàn thành nhưng con tàu 67 vẫn mắc cạn. Ban chỉ huy tàu họp bàn xin ý kiến cấp trên được hủy tàu để giữ bí mật. Anh em khẩn trương tháo gỡ những chi tiết máy móc quan trọng trên tàu rồi bịn rịn rời khỏi con tàu 67 thân yêu. Thuốc nổ hàng tấn đã được cài sẵn. Từng người điểm hỏa theo vị trí đã phân công. Một tiếng nổ vang xé tan màn đêm tĩnh mịch. Con tàu 67 đã tan ra, không còn để lại một dấu vết. Một tháng sau, cán bộ, thủy thủ Tàu 67 theo con Tàu 54 trở về miền Bắc, tiếp tục chuẩn bị cho những chuyến vượt biển chở hàng vào miền Nam…
Chuyến đi đầu tiên ấy, Vũ Đăng Khoa đã được toàn tàu bình chọn là người xuất sắc, được thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Anh còn được một món quà rất quý của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam tặng. Đó là một cuốn sổ công tác rất đẹp. Cuốn sổ đó sau này như một người bạn, một kỷ vật được ông cất giữ cẩn thận. Ông đã ghi chép vào đó các chương trình đào tạo chuyên ngành thông tin tàu biển phục vụ cho nhiệm vụ sau này. Cuốn sổ đã gắn bó cùng ông trong những ngày biên chế về Tàu 235 của Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh, rồi những ngày huấn luyện gian khổ trên Tàu 246, cả những trận đánh đuổi tàu biệt kích giữ an toàn cho tàu chở hàng phục vụ Chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971. Cuốn sổ ghi chép đó bây giờ là một hiện vật quý trong Bảo tàng Hải quân.
Theo QĐND