Đã có chuyển biến nhưng vẫn chưa mạnh

Trong những năm qua, ngành công nghiệp khai khoáng trên địa bàn tỉnh có bước phát triển đáng kể, đặc biệt là khai thác than đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Bởi vậy, việc cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường (PHMT) đối với hoạt động khai thác khoáng sản là công cụ quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (BVMT).

“71” - khung pháp lý quan trọng

Hiện nay, cơ chế ký quỹ phục hồi môi trường được quy định tại Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày 29-5-2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, PHMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản và Nghị định số 160/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản và Luật sửa đổi, bổ sung. Theo quy định, các tổ chức, cá nhân khi hoạt động khai thác khoáng sản phải lập dự án cải tạo, PHMT sau khai thác (trong đó số tiền ký quỹ đã được cụ thể hoá và dự toán chi tiết theo phương án PHMT) và tiến hành ký quỹ tại Quỹ BVMT Việt Nam hay Quỹ BVMT của địa phương nơi có mỏ khai thác (thay vì thông qua ngân hàng như trước đây); đồng thời số tiền ký quỹ sẽ được tính lãi suất như đối với tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn.

Trồng cây cải tạo phục hồi môi trường tại bãi thải Công ty CP Than Núi Béo. Ảnh: Đỗ Giang
Trồng cây cải tạo phục hồi môi trường tại bãi thải Công ty CP Than Núi Béo. Ảnh: Đỗ Giang

Ký quỹ là đặt trước một khoản tiền nhất định tại một nơi quy định cho mục tiêu xác định ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Từ ý nghĩa trên cho thấy, ký quỹ phục hồi môi trường là một công cụ kinh tế cần thiết trong quản lý tài nguyên môi trường, đóng vai trò tác động trực tiếp đến việc thực hiện trách nhiệm BVMT ngay sau khi khai thác của các tổ chức, cá nhân. Đây cũng là căn cứ quan trọng để cơ quan quản lý nhà nước nâng cao công tác quản lý góp phần phục hồi, hoàn nguyên môi trường, trả lại cảnh quan và bảo vệ môi trường.

Là tỉnh có hoạt động khai thác than với sản lượng tương đối lớn, cùng với đó là các nhà máy xi măng tất yếu phải có những tác động tiêu cực đến môi trường. Đó là sự biến đổi cảnh quan sau khai thác tài nguyên, đe doạ tính bền vững của quá trình phát triển. Đặc biệt, qua kiểm tra hầu hết những đơn vị này đều chưa kỹ quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Một số đơn vị đang lập dự án cải tạo, phục hồi môi trường song tiến độ còn chậm. Chất lượng lập dự án cải tạo, phục hồi môi trường của các đơn vị chưa cao.

Thực hiện Quyết định số 71 của Chính phủ về ký quỹ, cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, hiện nay, tỉnh đã thành lập Quỹ BVMT và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 3-2011 với vốn điều lệ 14 tỷ đồng. Trên cơ sở đó, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tăng cường kiểm tra đôn đốc các đơn vị khai thác khoáng sản trên địa bàn thực hiện việc lập Dự án cải tạo phục hồi môi trường, trình các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 83 dự án ký Quỹ với tổng số tiền 270 tỷ đồng. Trong đó có 46 đơn vị ngành Than, 15 đơn vị khai thác đá; số còn lại là các đơn vị hoạt động khai thác khoáng sản khác. Hiện đã có Công ty Than Uông Bí báo cáo hoàn thành dự án nạo vét Hồ Khe Ươn (Đông Triều) và đang làm thủ tục để hoàn trả tiền ký quỹ.

Vẫn còn vướng mắc

Mặc dù Quyết định 71 được ban hành là một bước hoàn thiện cơ bản các quy định pháp lý BVMT trong khai thác khoáng sản, phù hợp với Luật Khoáng sản và tình hình thực tế, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có những hạn chế, vướng mắc cần tháo gỡ. Đó là sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và Quỹ BVMT chưa được chặt chẽ còn nhiều hạn chế. Nhận thức của cộng đồng về quyền lợi người dân ở khu vực có khai thác khoáng sản còn thấp. Đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: Việc thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường chỉ quy định với từng dự án riêng lẻ trong khi trong thực tế hoạt động khai thác khoáng sản diễn ra trên diện rộng, với quy mô lớn liên vùng, liên mỏ, do nhiều tổ chức, cá nhân cùng khai thác. Hay về công tác thẩm định dự án cải tạo, phục hồi môi trường và khoản tiền ký quỹ liên quan đến nhiều ngành khác nhau trong khi cán bộ chuyên ngành môi trường chưa đủ năng lực, kinh nghiệm nên gây khó khăn cho công tác thẩm định. Bên cạnh đó, việc chưa có quy định về kinh phí cho hoạt động thẩm định dự án cải tạo, phục hồi môi trường, cũng như chưa có hướng dẫn lập Quỹ BVMT địa phương nên cả công tác thẩm định và tiếp nhận ký quỹ, quản lý quỹ của các tổ chức, cá nhân còn gặp nhiều vướng mắc.

Để việc ký quỹ và lập dự án bảo vệ môi trường được thực hiện thuận lợi và phát huy được ý nghĩa của nó, cần có các quy định cụ thể về giám định kỹ thuật các công trình cải tạo phục hồi môi trường, tăng cường tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường. Sở Tài nguyên và Môi trường kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thẩm định và phê duyệt các dự án cải tạo phục hồi môi trường thuộc thẩm quyền của Bộ để các đơn vị có cơ sở thực hiện việc ký quỹ và cải tạo phục hồi môi trường theo quy định.

Trang Thu

Cùng chuyên mục