Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc ta. Những diễn biến kỳ diệu trong những năm tháng có một không hai ấy trên đất Quảng Ninh vừa phong phú, vừa đặc sắc, có thể nói là tiêu biểu cho cả nước...
Từ miền Đông...
Tại địa đầu Móng Cái, Đào Phúc Lộc đã sớm tiếp nhận sự chỉ đạo của Trung ương, lập chi bộ Đảng và các tổ chức Việt Minh ngay từ năm 1942. Đầu năm 1945, Trung Hoa Quốc dân đảng từ bên kia biên giới tung lực lượng vào chờ thời cơ cướp chính quyền. Những tên phản động người Hoa như Lìu Sì Lồng (Lưu Sĩ Long), Chiếng Ửng Khìu (Chương Ngộ Kiều) v.v.. ngang nhiên đưa súng về trang bị cho nhiều tên ác ôn làm tay sai cho chúng; ngoài ra còn có bọn Việt Cách, đứng đầu là Vũ Kim Thành và bọn Việt Quốc, đứng đầu là Nguyễn Ái, đưa lực lượng rải khắp các khu đông dân từ Móng Cái tới Ba Chẽ. Trước tình thế nguy kịch đó, ngày 5-5-1945, các tổ chức Việt Minh ở Móng Cái đã dẫn đầu quần chúng các xã, trước hết là nam nữ thanh niên, rầm rộ tiến về Móng Cái biểu dương lực lượng. Gần một nghìn người đi chật đường phố Hoà Lạc, hô vang các khẩu hiệu: “Ủng hộ Việt Minh!”, “Nước Việt Nam độc lập vạn tuế!”… làm nức lòng đồng bào và khiến các thế lực phản động phải chùn tay. Ngay đêm đó, 34 thanh niên hăng hái nhất được tuyển chọn để thành lập Trung đội du kích quân và bí mật xuống thuyền ra đảo Vĩnh Thực tập luyện. Ít ngày sau, các chiến sĩ rời đảo trên hai con thuyền đi vào Ba Chẽ xây dựng căn cứ địa. Rất không may, bọn Việt cách Nguyễn Ái đã chiếm Ba Chẽ, trung đội du kích quân bị chúng khống chế. Được tin xấu, đồng chí Đào Phúc Lộc đã tới ngay Ba Chẽ để “bàn với Nguyễn Ái, hợp tác Việt Minh - Việt Cách đánh Nhật” và bày tiệc rượu “liên hoan”. Đêm đó lừa bọn chúng say, các chiến sĩ ta chia thành từng tốp nhỏ theo đường rừng về Đông Triều hợp nhất với Du kích quân của Chiến khu Đông Triều…
Tới miền Tây...
Với miền Đông là vậy, còn ở miền Tây của tỉnh, có thể nói sự kiện đặc sắc và có ý nghĩa lịch sử nhất chính là sự ra đời của Chiến khu Đông Triều. Đầu tháng 4-1945, người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Kiên Tranh, sau khi trốn khỏi nhà tù của Nhật ở Thái Nguyên, đã tìm đường ra Đông Triều, nơi ít năm trước ông đã từng làm phu mỏ. Trên đường đi, ông nghỉ chân ở một ngôi chùa trên đất Thanh Hà (Hải Dương). Tại đây, ông được nhà sư cho một áo cà sa và người lao công cho tấm thẻ thân mang tên Nguyễn Văn Tuệ, từ đây ông trở thành sư Tuệ. Sư Tuệ đến chùa Bắc Mã đúng lúc sư cụ Võ Giác Thuyên đang tập hợp thanh niên trong vùng để luyện võ đánh lại bọn thổ phỉ đang đêm từ rừng ra cướp của giết người. Sư Tuệ đã làm thơ tặng sư cụ và thuyết phục sư cụ theo con đường của Việt Minh. Chùa Bắc Mã trở thành căn cứ để hình thành lực lượng du kích quân của Chiến khu Đông Triều từ đấy. Từ một tiểu đội thành một trung đội rồi đông nữa thành nhiều trung đội. Ảnh hưởng của Việt Minh ngày càng lan rộng khắp các làng xã. Cuối tháng 5, đồng chí Nguyễn Bình chính thức trở thành người chỉ huy trưởng và ngày 8-6-1945, Ban lãnh đạo Chiến khu đã tổ chức đồng khởi cướp chính quyền. Tại Đông Triều, Đồn trưởng là Đội Hiền vốn đã được giác ngộ cách mạng, chỉ đợi quân ta nổ súng báo hiệu là lập tức binh lính đồn Đông Triều mở cổng đầu hàng Việt Minh.
Ở phía Đông, ta tấn công đồn Tràng Bạch. Tại Mạo Khê, khi có quân du kích của Chiến khu tiến về, anh em đã cùng phối hợp vào văn phòng mỏ tước vũ khí của lính cảnh vệ mỏ. Trời đã hửng sáng, lễ công bố chính thức thành lập Chiến khu Đông Triều được cử hành trong tiếng hò reo vang dội. Đồng bào tất cả các xã vô cùng hồ hởi, náo nức truyền tin quê hương giải phóng và khẩn trương thành lập các đoàn thể cứu quốc.
Giữa tháng 7, Tư lệnh Nguyễn Bình bí mật vào thị xã Quảng Yên để nắm tình hình chuẩn bị cho một cuộc tập kích lớn ở nơi đầu não của toàn tỉnh Quảng Yên. Một đại đội du kích quân đã bằng đường thuyền bí mật ém quân ở ngoài đê Phong Cốc. Đồng chí Đào Phúc Lộc đến Quảng Yên tìm gặp những bạn tù cùng bị Tuần phủ Cung Đình Vận bắt giam ngày nào, tình cờ lại gặp Nguyễn Bình. Hai người đang cùng anh em cơ sở trong thị xã bàn việc khởi nghĩa vào ngày 23-7 thì sáng ngày 20-7, có 3 tên Quốc dân đảng từ Hải Phòng sang vào dinh Tuần phủ ép Nguyễn Ngọc Thanh trao chính quyền cho chúng. Không thể để bọn Quốc dân đảng lộng hành, Tư lệnh Nguyễn Bình, có đồng chí Đào Phúc Lộc bên cạnh, đã xông thẳng vào nơi bọn chúng, chĩa súng bắt tất cả đầu hàng và dõng dạc tuyên bố toàn bộ thị xã Quảng Yên đã nằm dưới sự kiểm soát của quân Cách mạng. Ba tên Quốc dân đảng run sợ xin được tha mạng và vội vã ra xe về Hải Phòng. Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Thanh chấp nhận đầu hàng. Cướp chính quyền ở một tỉnh lỵ có tới 500 tay súng của đối phương mà ta không tốn một viên đạn, không tốn một giọt máu. Đây là tỉnh lỵ đầu tiên trong cả nước được giải phóng - một dấu ấn đặc sắc trong Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh.
| Quảng Ninh là hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ. Câu đúc kết vô cùng chính xác và sâu sắc ấy cũng rất đúng khi nói về Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh. Đó là theo tiếng gọi cứu nước của Đảng, của mặt trận Việt Minh, chiến khu Đông Triều được thành lập và cuộc đồng khởi giành chính quyền thắng lợi kỳ diệu. |
Nửa đầu tháng 8, bọn Việt Quốc - Việt Cách và bọn thổ phỉ từ Ba Chẽ, Hoành Bồ tiến về định cướp chính quyền ở Cẩm Phả và Hòn Gai. Tại Hòn Gai, bọn chúng diễu võ dương oai, uy hiếp quần chúng. Chiều 24-8, chúng tổ chức một cuộc mít-tinh ở sân vận động để nói xấu Việt Minh và định tuyên bố nắm chính quyền. Bên ta, đồng chí Hải Chi, vừa được Xứ uỷ Bắc Kỳ điều động từ Hải Phòng ra làm Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Yên, đã kịp thời có mặt tại Hòn Gai. Đồng chí chỉ đạo lực lượng Việt Minh vận động được phần lớn thanh niên và công nhân có mặt tại sân vận động, không nghe theo lời bọn Việt Cách. Đồng chí đã lên diễn đàn vạch mặt bọn chúng, nói rõ con đường cứu nước cao cả của Việt Minh. Bài diễn thuyết đầy sức thuyết phục được mọi người vỗ tay, hoan hô nhiệt liệt. Bọn phản động bẽ mặt lủi dần. Cả Hòn Gai bừng bừng khí thế Cách mạng. Ngày 26-8, có thêm một trung đội Giải phóng quân từ Đông Triều đến tiếp ứng, ta tổ chức một cuộc mít-tinh lớn tại sân vận động công bố thành lập chính quyền cách mạng.
Tại Cẩm Phả, ngay từ 12-8, hàng trăm thanh niên công nhân tập hợp thành lực lượng tự quản, đánh đuổi bọn Việt Cách đang hung hăng tại Cửa Ông. Cuối tháng 8, chính quyền cách mạng ở Cẩm Phả, Cửa Ông cũng chính thức được thành lập.
Đầu tháng 9, từ Cửa Ông, hai trung đội Giải phóng quân dùng thuyền lớn tiến ra giải phóng Tiên Yên. Tại đây, bọn địch ngoan cố chống đỡ những trận đánh ác liệt diễn ra tại thị trấn và ở xã Tiên Lãng. Hơn ba chục chiến sĩ ta hy sinh. Ta phải tạm lui về Cửa Ông và đầu tháng 10 có thêm quân tiếp viện, ta tiến ra giải phóng Tiên Yên. Ngày 20-10, chính quyền Tiên Yên được thành lập. Tin Tiên Yên đuổi sạch bọn giặc làm bà con Đầm Hà sốt ruột cử người lên Tiên Yên đón quân ta về giải phóng. Nhưng do bọn địch tập trung ở đây quá đông nên đầu năm 1946 ta mới giành được chính quyền ở Đầm Hà.
Các lực lượng phản động Việt Quốc, Việt Cách và bọn thổ phỉ đóng quân dày đặc gây rất nhiều tội ác ở Hà Cối và Móng Cái. Ở Móng Cái, bọn Vũ Kim Thành, Quản Liêm lộng hành, đồng bào ta vô cùng khổ cực. Tháng 5-1946, bà con Trà Cổ, Bình Ngọc lên Đầm Hà đón quân ta về giải phóng Móng Cái. Ta lập chính quyền ở Móng Cái nhưng chỉ ít ngày sau quân Quốc dân đảng Trung Hoa tràn sang tiếp sức cho bọn Việt Quốc - Việt Cách. Những cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra, hàng chục chiến sĩ và đồng bào ta hy sinh. Do lực lượng chúng quá đông, quân ta phải lui về…
Ngay đầu tháng 10, tàn quân Pháp tránh quân Nhật giải giáp vũ khí, lánh sang cảng Phòng Thành - Trung Quốc, rồi kéo về chiếm đảo Cô Tô và cảng Vạn Hoa trên đảo Cái Bầu. Từ hai nơi này, chúng dùng tàu chiến tiến vào vịnh Hạ Long thăm dò, âm mưu chiếm lại Vùng mỏ. Quân dân Hòn Gai đã dùng tàu thuyền xông ra bắt sống tàu Le Craysace. Khi những sư đoàn quân đội Tưởng tràn vào thì tình hình chính trị vô cùng phức tạp trong những tháng giữa năm 1946. Núp theo quân Tưởng, bọn Việt Cách cướp chính quyền ở Hòn Gai, bắt giam các cán bộ ta, thủ tiêu nhiều chiến sĩ. Gần hai tháng trời, chúng gây ra vô vàn tội ác. Đồng chí Hải Chi rời Quảng Yên đi nhận nhiệm vụ Bí thư Tỉnh uỷ Hải Ninh, thuyền của đồng chí qua vùng biển Hòn Gai bị bọn Việt Cách chặn lại. Bảy người trên thuyền bị chúng bắt tra tấn dã man và nửa đêm đem ra thủ tiêu bằng cách trói từng người, buộc đá dìm xuống vịnh. Từ trong lòng thuyền đậy kín, bảy chiến sĩ ta đã cởi trói cho nhau rồi vùng lên dùng dây trói làm vũ khí chiến đấu. Bốn đồng chí đã trúng đạn hy sinh, còn hai người bơi thoát lên đảo. Sáng hôm sau, chúng giả làm dân đánh cá đi truy lùng các đảo và hai đồng chí ta, trong đó có đồng chí Hải Chi, đã hy sinh. Trong lòng thuyền còn sót lại một nữ chiến sĩ 17 tuổi bị chúng đưa về Hòn Gai, và hai ngày sau khi quân Tưởng và bọn chúng rút khỏi biên giới, nữ chiến sĩ ấy bị chúng đưa ra Móng Cái đã trốn thoát…
Như vậy là việc giành và giữ chính quyền ở các địa phương trong tỉnh nhà rất khác nhau. Huyện Hà Cối, quần đảo Cô Tô chưa được giải phóng, phố Ba Chẽ thuộc châu Cẩm Phả và đảo Tuần Châu thuộc huyện Hoành Bồ chưa lập được chính quyền, cũng chưa biết đến cờ đỏ sao vàng thì quân Pháp đã trở lại và kéo theo hàng ngàn tên phản động người Hoa, dựng nên cái gọi là “Xứ Nùng tự trị Hải Ninh” tại Móng Cái. Tên trung uý người Hoa Voòng A Sáng (Hoàng Á Sinh) được Pháp dựng thành “vua”, thực hiện âm mưu chia rẽ khối đoàn kết toàn dân của ta. Quân Pháp nhanh chóng chiếm lại vùng mỏ, chúng gây ra vụ thảm sát làng bè hết sức dã man. Trong thực tế, tỉnh nhà đã phải sớm bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy hy sinh gian khổ từ đó…
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhận định khái quát: Quảng Ninh là hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ. Câu đúc kết vô cùng chính xác và sâu sắc ấy cũng rất đúng khi nói về Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh. Đó là theo tiếng gọi cứu nước của Đảng, của mặt trận Việt Minh, chiến khu Đông Triều được thành lập và cuộc đồng khởi giành chính quyền thắng lợi kỳ diệu. Việc giành chính quyền cấp tỉnh tại Quảng Yên thể hiện tài trí chớp thời cơ và ý chí tiến công dũng mãnh. Việc giành và giữ chính quyền trong toàn tỉnh diễn ra phức tạp, quyết liệt bởi đủ loại thù trong giặc ngoài…
Từ thực tiễn phong phú và đặc sắc ấy, Cách mạng Tháng Tám ở Quảng Ninh thật sự là những trang sử chói sáng mãi mãi đáng tự hào.
Tống Khắc Hài (Nhà nghiên cứu văn hoá - lịch sử Quảng Ninh)