Đẩy nhanh tốc độ chuyển diện các lò chợ

Ở độ sâu hàng trăm mét dưới lòng đất, khi một lò chợ kết thúc chu kỳ khai thác, toàn bộ hệ thống thiết bị từ máng cào, giàn chống, băng tải, trạm điện, đường ống khí nén, nước, thông gió… phải được tháo dỡ, vận chuyển để lắp đặt ở diện mới. Tốc độ chuyển diện có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch hoàn thành sản lượng, doanh thu, việc làm và thu nhập của hàng nghìn công nhân. Đặc biệt, trong bối cảnh các mỏ ngày càng xuống sâu, điều kiện địa chất phức tạp hơn, các đơn vị đều nỗ lực rút ngắn thời gian chuyển diện, tăng thời gian khai thác thực tế, nâng cao hiệu quả sản xuất. 

Với nghề khai thác hầm lò, mỗi lần chuyển diện, các đơn vị phải tiến hành tháo dỡ, vận chuyển và lắp đặt khối lượng thiết bị lớn trong không gian hạn chế, nhiều diện còn phải xử lý vấn đề độ dốc lớn, môi trường nóng ẩm. Không chỉ mất thời gian, chuyển diện còn làm đứt quãng guồng sản xuất, nếu diện gối đầu không được chuẩn bị kịp thời. Đây cũng từng là trở ngại lớn nhất của Công ty Than Quang Hanh trong nhiều năm. 

Theo ông Nguyễn Minh Tuân, Phó Giám đốc Công ty Than Quang Hanh, những năm trước mỏ chuyển diện khoảng 17-20 lần/năm. Nhưng vài năm gần đây, con số này tăng lên 28-30 lần/năm. Điều đó đồng nghĩa với việc gần như tháng nào cũng có phân xưởng phải chuyển diện. Đây là một trong những vấn đề khiến chi phí sản xuất tăng, chất lượng than giảm, thu hút lao động gặp khó. 

Để khắc phục tình trạng này, cuối năm 2024, Công ty Than Quang Hanh quyết định thành lập Phân xưởng Phục vụ hầm lò - đơn vị chuyên trách công tác chuyển diện. Nếu như trước kia, các phân xưởng khai thác vừa khấu than vừa tự thực hiện tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt thiết bị, thì nay toàn bộ công tác chuyển diện được chuyên môn hóa. Phân xưởng khai thác chỉ tập trung sản xuất than, còn công việc chuyển diện được giao cho đơn vị chuyên trách thực hiện liên tục theo dây chuyền. 

Nhờ vậy, khi một lò chợ cũ chuẩn bị kết thúc, một diện mới đã được chuẩn bị song song. Công tác thu hồi thiết bị, chống giữ, vận tải, lắp đặt được triển khai theo quy trình chuyên sâu và liên tục 3 ca/ngày. Nhờ đó, guồng máy sản xuất được duy trì ổn định hơn, công nhân có việc làm đều hơn và thu nhập cũng cải thiện rõ rệt. 

Thợ lò Công trường Cơ giới hóa 1, Công ty CP Than Núi Béo chuyển diện lò chợ cơ giới hóa.
Thợ lò Công trường Cơ giới hóa 1, Công ty CP Than Núi Béo chuyển diện lò chợ cơ giới hóa.

Công ty CP Than Núi Béo - Vinacomin cũng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm giảm số lần chuyển diện và tăng tốc độ chuyển diện các lò chợ. Vừa qua, Than Núi Béo đã triển khai tháo dỡ, vận chuyển toàn bộ 83 giàn chống thủy lực của lò chợ cơ giới hóa 30707 lên mặt bằng để bảo trì, sửa chữa tổng thể sau 5 năm hoạt động liên tục. Mỗi giàn chống có trọng lượng 18-24 tấn, kích thước cồng kềnh, vượt quá khổ vận chuyển thông thường trong hầm lò. Sau hơn 1 tháng tích cực triển khai, lò chợ cơ giới hóa 30707 đã được Công trường Cơ giới hóa 1 vận chuyển an toàn lên mặt bằng, tiến hành bảo dưỡng, sau đó lắp đặt trở lại ở diện sản xuất mới. Hiện nay, lò chợ đã vận hành ổn định.

Theo ông Trịnh Văn Quý, Phó Trưởng Phòng Kỹ thuật - Công nghệ mỏ, việc đưa toàn bộ 83 dàn chống thủy lực của lò chợ 30707 lên mặt bằng để sửa chữa tổng thể không chỉ phục vụ diện mới 30708, mà còn nhằm phục hồi đồng bộ kết cấu, kéo dài tuổi thọ thiết bị sau nhiều năm vận hành trong môi trường áp lực cao, độ ẩm lớn của hầm lò. 

Không chỉ đẩy nhanh tốc độ chuyển diện, Công ty CP Than Núi Béo còn đặc biệt chú trọng công tác kỹ thuật nhằm tối ưu sơ đồ khai thác, kéo dài tuổi thọ lò chợ và nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị cơ giới hóa. Đây được xem là giải pháp căn cơ để giảm áp lực chuyển diện quá dày trong điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu. 

Ngoài ra, đơn vị tập trung rà soát, tính toán kỹ điều kiện địa chất từng khu vực để lựa chọn sơ đồ khai thác phù hợp, hạn chế tối đa việc phải chuyển diện sớm. Đối với các diện cơ giới hóa, công ty ưu tiên thiết kế các đường lò ổn định, hạn chế biến động lớn về chiều dày vỉa và góc dốc nhằm duy trì khả năng làm việc đồng bộ của hệ thống giàn chống thủy lực. Công tác thăm dò, đánh giá địa chất được triển khai sát thực tế hơn để kịp thời phát hiện những khu vực đứt gãy, đá kẹp, hoặc biến động địa tầng, từ đó điều chỉnh hướng khai thác phù hợp.

Nhờ kết hợp đồng bộ giữa giải pháp kỹ thuật khai thác và tổ chức sản xuất, nhiều diện lò chợ của Than Núi Béo đã duy trì được thời gian khai thác ổn định hơn, nâng cao hiệu suất sử dụng thiết bị cơ giới hóa và giảm áp lực chuyển diện liên tục như trước. Hiện nay, trung bình mỗi năm, Than Núi Béo chuyển diện khoảng 7 lần, mỗi lần thực hiện trong thời gian 1,5-2 tháng; đảm bảo hoàn thành sản lượng 2 triệu tấn than/năm. 

Nhiều đơn vị của TKV hiện đang tăng tốc đầu tư cơ giới hóa đồng bộ cho công tác chuyển diện; áp dụng các giải pháp vận tải monoray chở người và thiết bị, hệ thống tời thủy lực, tời công suất lớn; đồng thời chuyên môn hóa lực lượng phục vụ chuyển diện theo hướng tinh gọn và chuyên sâu. Cùng với đó là việc chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và tăng cường đào tạo đội ngũ công nhân cơ giới hóa. Bởi thực tế cho thấy, chuyển diện hiện nay ngày càng đòi hỏi nhân công trình độ kỹ thuật cao, khả năng phối hợp đồng bộ và kỷ luật an toàn nghiêm ngặt.

Cùng chuyên mục