Tác phẩm tham dự Giải Báo chí về xây dựng Đảng 2026

Từ “Kỷ luật và Đồng tâm” đến khát vọng phát triển xanh

40 năm đổi mới đã làm nên một Quảng Ninh khác trước: năng động hơn, hiện đại hơn, dám đi trước ở những việc khó. Trong hành trình ấy, ngành Than và Đảng bộ Than Quảng Ninh giữ một vị trí rất riêng. Ba mươi năm xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ Than Quảng Ninh không chỉ là câu chuyện của một tổ chức đảng trong doanh nghiệp, mà còn là câu chuyện về cách một ngành công nghiệp truyền thống tự làm mới mình để đi cùng tương lai xanh của thành phố Quảng Ninh.

bqn_tr_2537180_2537179_tu_dong_hoa_trong_dieu_hanh_san_xuat_09304903_09313403.jpg
Hệ thống điều hành sản xuất tại Công ty Tuyển than Cửa Ông. Ảnh: Phạm Học.

Từ vỉa than sâu đến hạt nhân chính trị của Vùng mỏ

Than đã làm nên dáng vóc công nghiệp của Quảng Ninh. Nhưng chính người thợ mỏ, với tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm”, mới làm nên hồn cốt của vùng đất này. Từ lợi thế tài nguyên đến văn hóa công nhân mỏ, từ những gian khó buổi đầu đổi mới đến sự ra đời của Đảng bộ Than Quảng Ninh năm 1996, hành trình ấy cho thấy vai trò không thể thay thế của tổ chức đảng trong một ngành kinh tế đặc biệt.

Có những vùng đất mà lịch sử không chỉ nằm trong văn kiện hay con số. Lịch sử ở đó còn được viết bằng tiếng còi vào ca, bằng ánh đèn lò, bằng những vỉa than nằm sâu trong lòng đất và bằng dáng người thợ mỏ sau một ngày làm việc. Quảng Ninh là một vùng đất như thế.

Nhìn lại lịch sử phát triển của Quảng Ninh, có thể thấy than là một phần không thể tách rời của vùng đất này. Bể than trải dài từ Phả Lại - Đông Triều qua Hạ Long, Cẩm Phả đến đảo Kế Bào, Vân Đồn với trữ lượng lớn, tạo nên lợi thế công nghiệp đặc biệt cho tỉnh. Từ những vỉa than dưới lòng đất, các đô thị mỏ từng bước hình thành; kéo theo đó là hệ thống nhà máy tuyển, cảng than, tuyến vận tải, cơ khí mỏ, nhiệt điện và các ngành công nghiệp, dịch vụ phụ trợ.

Nhưng giá trị của than không chỉ được đo bằng sản lượng hay những con số đóng góp cho nền kinh tế. Qua nhiều thế hệ, than đã trở thành một phần của đời sống Vùng mỏ, gắn với việc làm, sự hình thành các đô thị, nếp sống và hun đúc nên bản sắc, tính cách của con người Quảng Ninh - kiên cường, kỷ luật, đoàn kết và giàu ý chí vươn lên.

Văn hóa công nhân mỏ được hình thành từ rất sớm. Người thợ mỏ đến từ nhiều vùng quê, mang theo giọng nói, tập quán, lối sống khác nhau. Họ cùng sống trong xóm thợ, lán thợ, làng mỏ, khu phố thợ; cùng làm việc trong hầm lò, khai trường; cùng chia sẻ hiểm nguy, vất vả và cả niềm tự hào nghề nghiệp.

bqn_tr_images996223_DJI_0059__2_.JPG
Đường lên khai trường Công ty CP Than Hà Tu. Ảnh: Phạm Học.

Trong môi trường ấy, sự đoàn kết không phải là điều nói cho hay. Đó là nhu cầu sống còn. Trong hầm lò hay trên khai trường, không ai có thể đi một mình. Một ca sản xuất an toàn cần sự chính xác của từng người, sự phối hợp của cả tổ đội. Chính đời sống lao động ấy đã tạo nên tính kỷ luật, sự thẳng thắn, bền bỉ và nghĩa tình của người thợ mỏ. Từ cuộc Tổng đình công tháng 11/1936, khẩu hiệu “Kỷ luật và Đồng tâm” đã vượt khỏi ý nghĩa của một lời hiệu triệu đấu tranh. Nó trở thành cốt cách của người Vùng mỏ. Qua kháng chiến, qua những năm tháng bảo vệ biên giới, rồi bước vào công cuộc đổi mới, tinh thần ấy vẫn bền bỉ như một mạch than không tắt.

Năm 1986, đất nước bước vào công cuộc đổi mới. Với Quảng Ninh, đổi mới không phải là khái niệm xa xôi. Đổi mới bắt đầu từ những câu hỏi rất cụ thể: làm thế nào để khôi phục sản xuất, làm thế nào để đưa than lên, làm thế nào để bảo đảm đời sống công nhân, làm thế nào để thoát khỏi cách quản lý cũ, và làm thế nào để một tỉnh giàu tiềm năng không còn nghèo trong chính lợi thế của mình? Thời điểm ấy, sản xuất than được xác định là ngành kinh tế chủ lực của tỉnh, là “lương thực của cả nền kinh tế”. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành nghị quyết riêng về phát triển sản xuất than, mở đợt quán triệt trong toàn Đảng bộ, trước hết là trong công nhân, về ý nghĩa của sản xuất than; đồng thời mở chiến dịch sản xuất và phục vụ sản xuất than “Quyết thắng”. Nói một cách giản dị, Quảng Ninh bước vào đổi mới từ chính hầm lò, khai trường, nhà máy tuyển và bến cảng than. Đổi mới không phải chỉ là khẩu hiệu. Đổi mới là sửa cách làm, thay cách quản lý, khơi dậy trách nhiệm của người lao động và tìm đường để ngành Than đứng vững trong cơ chế mới.

Chính ở những thời điểm như thế, vai trò của tổ chức đảng được nhìn thấy rõ nhất. Đảng không đứng ngoài sản xuất, càng không chỉ hiện diện trong hội nghị. Tổ chức đảng có mặt ở phân xưởng, khai trường, hầm lò, nhà máy tuyển, cảng than; có mặt trong các phong trào thi đua; có mặt trong những cuộc đối thoại với công nhân; có mặt ở nơi cần giữ kỷ luật và cũng là nơi cần khơi dậy sự đồng lòng. Ở Vùng mỏ, người công nhân không chỉ nghe điều được nói. Họ nhìn vào việc được làm. Cán bộ có xuống lò không, có sát công trường không, có hiểu bữa ăn ca, nhà ở, đường đi làm, nguy cơ mất an toàn, nỗi lo thu nhập của thợ mỏ không - đó là thước đo niềm tin. Vì vậy, xây dựng Đảng trong ngành Than cũng là xây dựng mối liên hệ máu thịt giữa tổ chức đảng với công nhân. Một nghị quyết đúng phải đi được vào ca sản xuất. Một phong trào hay phải chạm tới đời sống người lao động. Một đảng viên tốt phải là người làm trước, chịu khó trước, nhận việc khó trước.

Ba mươi năm qua, từ những chi, đảng bộ cơ sở ban đầu, Đảng bộ Than Quảng Ninh từng bước trưởng thành, khẳng định vai trò hạt nhân chính trị trong ngành Than trên địa bàn thành phố. Đảng bộ đã cùng ngành Than đi qua quá trình chuyển đổi từ tư duy sản xuất theo mệnh lệnh sang quản trị doanh nghiệp; từ khai thác phân tán sang tổ chức sản xuất quy mô, hiện đại hơn; từ chỉ chú trọng sản lượng sang quan tâm nhiều hơn đến năng suất, an toàn, môi trường và đời sống người lao động. Đó cũng là đóng góp riêng của Đảng bộ Than Quảng Ninh vào hành trình đổi mới của thành phố Quảng Ninh hôm nay.

Từ vỉa than sâu đến hạt nhân chính trị của Vùng mỏ, Đảng bộ Than Quảng Ninh đã chứng minh một điều giản dị: nơi nào tổ chức đảng bám sát thực tiễn, nơi đó khó khăn được gọi đúng tên; nơi nào đảng viên đi trước, nơi đó người lao động có điểm tựa; nơi nào “Kỷ luật và Đồng tâm” được chuyển thành việc làm cụ thể, nơi đó truyền thống trở thành sức mạnh phát triển.

2538628_wtm_2d325d7f12bf25047d5bc15b8ddd7022.jpg
Hòn than óng ánh sau khi được rửa sạch.Ảnh: Phạm Học.

Từ “nâu” sang “xanh”- Bản lĩnh đổi mới của ngành kinh tế trụ cột

Khi Quảng Ninh lựa chọn chuyển hướng phát triển từ “nâu” sang “xanh”, ngành Than đứng trước một yêu cầu không dễ dàng: vừa tiếp tục bảo đảm vai trò trụ cột về năng lượng, vừa phải tự đổi mới để giảm tác động môi trường, nâng cao chất lượng sản xuất, hiện đại hóa công nghệ và xây dựng hình ảnh một ngành công nghiệp có trách nhiệm. Đây là cuộc chuyển đổi không chỉ của máy móc, mà trước hết là của cách nghĩ, cách làm.

Trong nhiều năm, than là biểu tượng công nghiệp của Quảng Ninh. Nhưng cũng chính Quảng Ninh là địa phương sớm nhận ra rằng, một cách phát triển dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên thô sẽ không thể đi xa nếu không đổi mới. Tài nguyên là lợi thế, nhưng tài nguyên cũng có giới hạn. Công nghiệp khai khoáng tạo ra của cải, việc làm, ngân sách, song cũng đặt ra áp lực lớn về môi trường, cảnh quan đô thị và chất lượng sống. Những bãi thải, bụi than, nước thải mỏ, tuyến vận chuyển than đi qua khu dân cư - tất cả đều là những vấn đề không thể né tránh. Vì thế, khi Quảng Ninh đặt vấn đề chuyển từ “nâu” sang “xanh”, đó không phải là sự phủ nhận quá khứ. Đó là cách thành phố nhìn thẳng vào thực tế để bước sang một chặng đường mới. “Nâu” là giai đoạn đã tạo nền. “Xanh” là đòi hỏi của tương lai. Không có ngành Than, Quảng Ninh khó có nguồn lực, đội ngũ công nhân, hạ tầng và bản lĩnh công nghiệp như hôm nay. Nhưng nếu ngành Than cứ đi theo cách cũ, Quảng Ninh cũng khó trở thành một địa phương hiện đại, đáng sống, có sức cạnh tranh cao.

Với ngành Than, yêu cầu ấy tạo ra áp lực kép. Đảng bộ Than Quảng Ninh đã trưởng thành trong chính áp lực đó. Nếu giai đoạn đầu là lập lại trật tự, củng cố tổ chức, giữ ổn định sản xuất, thì giai đoạn sau là đổi mới công nghệ, sắp xếp lại doanh nghiệp, nâng cao năng lực lãnh đạo ở cơ sở, chăm lo người lao động và thúc đẩy phát triển bền vững. Có thể nói, bản lĩnh của Đảng bộ Than Quảng Ninh không chỉ thể hiện trong lúc thuận lợi. Bản lĩnh ấy rõ nhất ở những thời điểm ngành Than phải thay đổi cách làm, phải chấp nhận tự điều chỉnh, phải vượt qua thói quen cũ để đáp ứng yêu cầu mới.

2536339_wtm_31b5e0872749d2794123562edcac0987.jpg
Đoàn viên thanh niên chăm sóc di tích địa điểm thành lập chi bộ Đảng đầu tiên tại Mạo Khê. Ảnh: Phạm Học.

Một dấu ấn quan trọng của thời kỳ đổi mới là quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Đến năm 2016, trên địa bàn Quảng Ninh còn 117 doanh nghiệp thuộc các ngành Trung ương quản lý, trong đó Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam có 51 doanh nghiệp; 22 đơn vị thuộc TKV được cổ phần hóa, trong đó có 9 đơn vị trực tiếp khai thác than; 10 đơn vị chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Những con số ấy cho thấy một bước chuyển lớn. Ngành Than không còn vận hành theo cách quản lý cũ, mà từng bước đi vào quỹ đạo quản trị doanh nghiệp hiện đại hơn. Sản xuất phải gắn với hiệu quả. Đầu tư phải tính đến thị trường. Quản lý phải rõ trách nhiệm. Kỷ luật tài chính, an toàn lao động, bảo vệ môi trường ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc. Nhưng tái cơ cấu doanh nghiệp không chỉ là thay đổi tên gọi hay mô hình tổ chức. Điều khó hơn là tái cơ cấu cách nghĩ. Một doanh nghiệp than trong thời kỳ mới không thể chỉ hỏi: “Khai thác được bao nhiêu?”. Câu hỏi phải rộng hơn: “Khai thác bằng cách nào?”, “Có an toàn không?”, “Tác động môi trường ra sao?”, “Người lao động được chăm lo thế nào?”, “Tài nguyên có được sử dụng tiết kiệm không?”, “Công nghệ có đủ sức đi sâu hơn, xa hơn, an toàn hơn không?”.

Từ những câu hỏi đó, diện mạo ngành Than trên đất Quảng Ninh đã thay đổi. Cơ giới hóa trong đào lò và khai thác được đẩy mạnh. Nhiều khâu vận tải, sàng tuyển, kho vận được đầu tư theo hướng hiện đại hơn. Các tuyến băng tải kín dần thay thế một phần vận chuyển than bằng đường bộ. Các trạm xử lý nước thải mỏ, bãi thải được hoàn nguyên, cây xanh trong khu mỏ, nhà máy, khai trường ngày càng được quan tâm. Những mô hình “mỏ xanh, mỏ sạch, mỏ hiện đại” không chỉ để làm đẹp hình ảnh doanh nghiệp. Đó là yêu cầu sống còn nếu ngành Than muốn tiếp tục tồn tại và phát triển trong một Quảng Ninh đang hướng tới đô thị xanh, du lịch xanh, công nghiệp sạch hơn và chất lượng sống cao hơn.

Vai trò của Đảng bộ Than Quảng Ninh ở đây là giữ cho quá trình đổi mới ấy đi đúng hướng. Tổ chức đảng trong doanh nghiệp không làm thay chuyên môn, nhưng phải lãnh đạo để chuyên môn đi đúng đường. Không điều hành thay giám đốc, nhưng phải góp phần giữ kỷ luật, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, kiểm tra việc thực hiện chủ trương, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và nhắc nhở doanh nghiệp không được đánh đổi môi trường, an toàn, đời sống công nhân lấy kết quả ngắn hạn.

Một điểm đáng chú ý là trong các định hướng phát triển của thành phố, việc khai thác và sử dụng than phải tiết kiệm, hiệu quả; đầu tư đổi mới công nghệ phải phù hợp với khai thác xuống sâu, quy mô lớn; đồng thời phải bảo đảm an toàn cho công nhân và bảo vệ môi trường. Tinh thần ấy rất rõ: ngành Than vẫn quan trọng, nhưng cách phát triển ngành Than phải khác trước. Khác trước là không chỉ khai thác, mà phải quản lý tài nguyên tốt hơn. Không chỉ vận chuyển, mà phải giảm bụi, giảm tác động đến đô thị. Không chỉ xử lý nước thải vì bắt buộc, mà phải tính đến tái sử dụng nước sau xử lý. Không chỉ đổ đất đá ra bãi thải, mà phải nghiên cứu biến đất đá thải thành vật liệu san lấp, vật liệu xây dựng, đầu vào cho hạ tầng. Không chỉ hoàn nguyên sau khai thác, mà phải tính đến hoàn nguyên ngay từ khi lập phương án khai thác.

Nếu làm tốt, những thứ từng được xem là “phụ phẩm” hoặc “gánh nặng” của khai thác mỏ có thể trở thành nguồn lực mới. Đất đá thải mỏ có thể phục vụ các công trình hạ tầng nếu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường. Nước thải mỏ sau xử lý có thể tái sử dụng cho sản xuất, vệ sinh công nghiệp, tưới cây, cải tạo cảnh quan. Không gian sau khai thác có thể trở thành công viên, hồ điều hòa, không gian giáo dục truyền thống, thậm chí là điểm đến của du lịch công nghiệp nếu được quy hoạch bài bản. Đó là cách nhìn mới về tài nguyên. Trước đây, tài nguyên là than nằm trong lòng đất. Hôm nay, tài nguyên còn là công nghệ mỏ, dữ liệu mỏ, kinh nghiệm quản lý an toàn, văn hóa thợ mỏ, không gian hoàn nguyên, đất đá thải có thể tái sử dụng, nước thải có thể xử lý và dùng lại. Khi cách nghĩ ấy trở thành việc làm cụ thể, ngành Than sẽ không còn bị nhìn như phần đối lập với phát triển xanh, mà có thể trở thành một phần quan trọng trong quá trình xanh hóa Quảng Ninh.

Ba mươi năm Đảng bộ Than Quảng Ninh trưởng thành cũng là ba mươi năm vai trò lãnh đạo của Đảng trong doanh nghiệp được thử thách qua nhiều bước ngoặt. Từ ổn định sản xuất đến hiện đại hóa công nghệ; từ giữ kỷ luật Vùng mỏ đến tham gia chuyển hướng phát triển; từ chăm lo đời sống công nhân đến xây dựng văn hóa doanh nghiệp; từ sản xuất than đến trách nhiệm môi trường. Mỗi bước chuyển ấy đều cần bản lĩnh, sự kiên trì và năng lực tổ chức thực tế.

Quảng Ninh đã đi từ “nâu” sang “xanh” không bằng cách quay lưng với ngành Than, mà bằng cách ngành Than phải tự đổi mới. Và chính ngành Than, nếu biết đi trước trong công nghệ, an toàn lao động, chăm lo người thợ, tái sử dụng chất thải mỏ và bảo vệ môi trường, sẽ tiếp tục chứng minh rằng công nghiệp truyền thống vẫn có thể tìm được chỗ đứng xứng đáng trong một thành phố Quảng Ninh hiện đại.

2525306_wtm_44d1f3110f2ebd392d84f7cf13f1be76.jpg
Khai thác than bằng máy móc hiện đại dưới lò chợ Công ty CP Than Vàng Danh.

Trong tương lai gần, khai thác than sẽ tiếp tục phải xuống sâu hơn, điều kiện địa chất phức tạp hơn, chi phí lớn hơn, yêu cầu an toàn cao hơn. Điều đó đòi hỏi đầu tư mạnh cho công nghệ, tự động hóa, số hóa, giám sát thông minh, quản lý rủi ro và đào tạo nguồn nhân lực. Một người thợ mỏ thế hệ mới không chỉ cần sức khỏe, kinh nghiệm và kỷ luật mà còn cần kỹ năng công nghệ, khả năng vận hành thiết bị hiện đại, ý thức môi trường và tác phong an toàn chuyên nghiệp.

Đây là nhiệm vụ lớn của Đảng bộ Than Quảng Ninh trong giai đoạn tới. Xây dựng Đảng không thể tách khỏi xây dựng con người. Một tổ chức đảng mạnh trong ngành Than phải tạo ra đội ngũ cán bộ, đảng viên, công nhân có bản lĩnh, có tay nghề, có kỷ luật, có khả năng thích ứng với công nghệ mới. Đảng viên trong doanh nghiệp phải là người đi đầu trong đổi mới kỹ thuật, giữ gìn an toàn, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường và lan tỏa văn hóa công nhân mỏ.

Nhìn lại 40 năm đổi mới của Quảng Ninh, có thể thấy một hành trình khá rõ: từ khó khăn đi lên bằng đổi mới; từ tài nguyên đi tới công nghệ; từ tăng trưởng bằng khai thác sang phát triển bền vững hơn; từ một tỉnh công nghiệp truyền thống đến thành phố hôm nay. Trong hành trình ấy, Đảng bộ Than Quảng Ninh là một chương giàu bản sắc. Chương ấy có những vỉa than sâu, có người thợ lặng lẽ vào ca, có những đổi thay về công nghệ, có những cuộc sắp xếp không dễ dàng, có cả nỗ lực làm xanh hơn một ngành công nghiệp vốn gắn với màu than. Lịch sử không chỉ để tự hào. Lịch sử còn để soi đường. Càng tự hào, ngành Than càng phải đổi mới mạnh hơn, trách nhiệm hơn, hiện đại hơn. Hành trình 30 năm của Đảng bộ Than Quảng Ninh khẳng định ngành Than không chỉ khai thác than để thắp sáng nền kinh tế. Ngành Than còn “khai thác” những giá trị văn hóa, kỷ luật, đoàn kết và sáng tạo để góp phần xây dựng một Quảng Ninh phát triển bền vững.

Cùng chuyên mục