Mỗi khi nông, thủy sản Việt lâm cảnh khó khăn vì "kẹt" xuất khẩu thì câu chuyện "giải cứu" lại xuất hiện. Không chỉ "giải cứu", việc này đặt ra nhiều vấn đề tương tự về quản lý, tiêu thụ... đối với cả các sản phẩm thủy hải sản ở Quảng Ninh.
Từ trước tới nay, đặc biệt trong dịp dịch bệnh Covid -19, việc giải cứu nông, thủy sản không còn là hiếm. Trong đợt dịch bệnh Covid -19 vừa qua thì người dân “giải cứu” đủ thứ, từ thanh long, dưa hấu cho đến cả tôm hùm… Có thể dễ thấy, sự chung tay, cảm thông mang tên “giải cứu” có thể xem là một nét đẹp của cộng đồng.
Thế nhưng dường như năm nào vấn đề "giải cứu" cũng được đặt ra ở khắp các vùng sản xuất, chuyên canh của đất nước. Có lẽ người dân cũng bắt đầu quá quen thuộc với cụm từ "Giải cứu". Đó là chưa kể có trường hợp thương lái lợi dụng để trục lợi hay trường hợp sau khi giải cứu xong, các mặt hàng lại xuất khẩu được trở lại, giá bán tăng cao ngất ngưởng.
Giải cứu phải chăng đã chuyển thành "căn bệnh" mãn tính? Và làm sao để căn bệnh này không tái phát là vấn đề mà không ít người quan tâm. Dịp dịch bệnh vừa qua cũng chỉ ra những “lỗ hổng” tương tự đối với tiêu thụ thủy hải sản ở các "vựa nuôi" trồng ở Vân Đồn, Quảng Yên, Hải Hà… Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, ảnh hưởng của dịch bệnh, thị trường Trung Quốc ngừng nhập khẩu một số mặt hàng từ thị trường Việt Nam, khiến các loại thủy hải sản trên không được xuất khẩu.
Theo thống kê, Quảng Ninh có khoảng 3.500 tấn ngao hai cùi, 4.500 tấn hàu Thái Bình Dương, tập trung chủ yếu ở các địa phương Vân Đồn, Hải Hà, Quảng Yên… đứng trước nguy cơ dư thừa, phải giải cứu. Đó là chưa kể thời gian tới sẽ có một số thủy hải sản vào vụ thu hoạch chính như khoảng 400 tấn tôm, khoảng 3.000 tấn hàu cửa sông (chủ yếu ở Quảng Yên). Đây là sản lượng thủy, hải sản lớn mà tiêu thụ trong nước khó có thể giải quyết hết ngay một sớm, một chiều.
Thực tế cho thấy, không phải chỉ đến khi những ảnh hưởng của dịch Covid-19 mới dẫn đến câu chuyện ùn ứ, dư thừa nông sản. Trong nhiều năm qua, việc “giải cứu” nông sản đã diễn ra ở nhiều nơi, nhiều thời điểm khác nhau khiến cách tìm "đầu ra" cho nông sản thông qua “giải cứu” đã trở nên quen thuộc.
Theo chuyên gia nhận định, thực tế đó cũng cho thấy nhiều vấn đề trong chuỗi sản xuất - chế biến - nuôi trồng thủy hải sản. Thực tế ở Vân Đồn, một trong những "vựa nuôi trồng" thủy hải sản lớn, trong những năm gần đây diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy hải sản liên tục tăng nhanh. Lợi ích đưa lại từ 1 hoặc vài vụ nuôi trồng thủy hải sản khiến nhiều hộ dân đầu tư tăng nhanh diện tích nuôi trồng, thậm chí có thời điểm còn lấn... luồng đường thủy.
Đó là chưa kể việc mở rộng hình thức "quảng canh" đưa lại nhiều ảnh hưởng tới môi trường nuôi trồng, tỷ lệ sống không cao do chưa có nguồn con giống chuẩn, ổn định; thu hoạch con non, hiệu quả kinh tế chưa cao. Ngoài ra, việc nuôi trồng của các hộ cá thể theo hình thức tự phát, tự tìm thị trường tiêu thụ, quy trình nuôi trồng chưa ổn định (chưa chứng minh được nguồn gốc, quy trình sản xuất ra sản phẩm)... sẽ gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu. Bởi hiện các thị trường Trung Quốc và các thị trường khác đã dần thắt chặt các quy định về nguồn gốc, chất lượng sản phẩm.
Việc chạy theo lợi nhuận, tăng diện tích nuôi trồng, phá vỡ quy hoạch nuôi trồng... có lẽ là thực trạng chung ở nhiều nơi. Chính vì thế, để không xảy ra tình trạng ứ thừa thủy sản trước hết cần quan tâm tới việc quản lý quy hoạch, nêu cao trách nhiệm, vai trò của cơ quan chức năng, đặc biệt là trách nhiệm quản lý ban đầu là chính quyền cơ sở, cấp xã phường.
Về lâu dài, để lo đầu ra cho sản phẩm, Vân Đồn cũng như các địa phương khác đang khẩn trương liên hệ với các đơn vị, hộ tiêu thụ số lượng lớn như ngành than, kênh tiêu thụ ở các siêu thị lớn... Đồng thời với quản lý tốt quy hoạch, việc nuôi trồng chú trọng nâng cao chất lượng nuôi trồng, giảm diện tích xuống còn 500ha, Vân Đồn cũng đang tích cực vận động thành lập, chuẩn hóa các HTX nuôi trồng thủy hải sản; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư KHCN, sáng tạo sản phẩm mới nâng cao giá trị gia tăng. Đây sẽ là các đầu mối kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ, quy trình sản xuất và chất lượng để sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao có thể vào các siêu thị, trung tâm thương mại hoặc xuất khẩu.
Điều đáng mừng, hiện Vân Đồn cũng đã xuất hiện các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư KHCN, sáng tạo, sản xuất các sản phẩm nâng cao giá trị gia tăng cho con hầu và thủy sản khác. Trước hết là Công ty TNHH Đầu tư phát triển sản xuất Hạ Long (Tập đoàn Bim) chế biến hàu tách vỏ đóng gói cùng 10 đầu sản phẩm thực phẩm từ hầu và tinh chất hàu.
Đơn vị thứ hai là Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Thủy sản Quảng Ninh đầu tư khá công phu dây truyền và sáng tạo ra hơn chục đầu sản phẩm từ hầu và các loại thủy hải sản khác, khẳng định được thương hiệu thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên sản lượng tiêu thụ trung bình của hai đơn vị này chỉ đạt từ 400 - 500 tấn hàu nguyên liệu/năm, nhưng các sản phẩm hàu đóng gói, ruốc hàu, hàu sấy khô... đã khẳng định thương hiệu, xuất hiện trên các siêu thị Vinmart, A-on và xuất khẩu đi các thị trường khó tính.
Tuy chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng sản lượng hàng chục nghìn tấn/năm của Vân Đồn nhưng có thể thấy sự sáng tạo, đầu tư KHCN mở ra hướng đi mới, sự khẳng định thương hiệu của các đơn vị này. Về lâu dài cùng với các giải pháp quản lý chặt, đây phải chăng là hướng đi mở, lời giải cho bài toán "giải cứu" thủy hải sản ở Vân Đồn và các địa phương khác ?
Hà Phong