Trên địa bàn Quảng Ninh hiện có 26 đơn vị, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình đủ điều kiện hoạt động kinh doanh sản xuất giống cây lâm nghiệp theo quy định. Từ năm 2008 trở lại đây việc quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp theo chuỗi hành trình đã được thực hiện khá đồng bộ và nền nếp.
Các giống cây trồng lâm nghiệp chính như thông mã vĩ, thông nhựa, keo tai tượng đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Các chủ vườn ươm đều có nhật ký gieo ươm, sơ đồ vườn ươm ghi rõ số lượng, chủng loại, ngày gieo cấy, khi đủ tiêu chuẩn xuất vườn được cơ quan chức năng kiểm tra, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc lô cây con theo quy định. 100% số lượng cây giống cung ứng phục vụ trồng rừng của các dự án trồng rừng bằng vốn ngân sách, trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, sản xuất, môi trường, liên doanh ngành Than đều được kiểm soát. Ngoài ra các dự án trồng rừng bằng vốn tự đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước về cơ bản cũng được kiểm soát chặt chẽ chất lượng cây giống, các đối tượng trồng rừng còn lại kiểm soát được trên 20% số lượng cây giống. Với việc tăng cường quản lý theo quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, sắp xếp lại hệ thống mạng lưới cung cấp giống cây lâm nghiệp trên địa bàn hợp lý và sự thay đổi trong cách thức quản lý, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước nên nhận thức của các đơn vị tham hoạt động trong lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp đã từng bước được nâng cao, ý thức chấp hành các văn bản pháp lý và hệ thống quy trình, quy phạm có nhiều chuyển biến tích cực. Nhận thức của người trồng đã có sự thay đổi đáng kể, nhu cầu muốn có giống tốt và chấp nhận giá cao khi mua của các đơn vị sản xuất giống cây lâm nghiệp theo quy trình, không mua giống xô bồ từ bên ngoài dù giá rẻ hơn. Người sản xuất đã phần nào yên tâm hơn chất lượng giống tốt do họ sản xuất ra được đánh giá thoả đáng và được bảo hộ về chất lượng.
Công tác quản lý, sản xuất dù đã đi vào nền nếp hơn nhưng những bất cập trong quá trình thực hiện đang khiến cho cả cơ quan quản lý, người sản xuất và người mua cùng gặp những trở ngại. Theo danh mục giống cây lâm nghiệp được phép sản xuất kinh doanh có quy định đối với một số loại cây như thông nhựa, thông mã vĩ, quế, sa mộc… do Bộ NN&PTNT ban hành thì tối thiểu phải có rừng giống chuyển hoá để lấy giống cho sản xuất nhưng trên thực tế với cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn giống hiện có không thể đáp ứng được yêu cầu này. Dù đã có các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh giống cây lâm nghiệp nhưng các quy định về loại hình sản xuất kinh doanh này chưa được cụ thể, rõ ràng nên khó khăn cho quá trình kiểm tra, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh của cơ quan quản lý Nhà nước cũng như nhu cầu muốn được tham gia sản xuất kinh doanh trên lĩnh vực này của người dân. Từ năm 2004 Bộ NN&PTNT đã có sự phân cấp quản lý một số loại hình nguồn giống cây lâm nghiệp nhưng đến nay vẫn chưa có mã số cấp cho từng loại nguồn giống nên rất khó khăn trong việc thực hiện sản xuất giống cây lâm nghiệp theo chuỗi hành trình. Trong tính toán của các Bộ, ngành Trung ương để quản lý tốt chất lượng giống cây lâm nghiệp cần xây dựng cơ sở vật chất mang tính chuyên dụng phục vụ cho công tác giống như phòng kiểm nghiệm, kho dự trữ, bảo quản hạt giống... nhưng do sử dụng không thường xuyên nên nếu mỗi tỉnh đều đầu tư xây dựng thì rất lãng phí và khó cho công tác quản lý.
Đồng chí Nguyễn Thị Lượm, Chi cục Phó Chi cục Phát triển lâm nghiệp cho biết: Quảng Ninh đứng trong tốp đầu của cả nước có tốc độ trồng rừng nhanh và hiệu quả, độ che phủ rừng đã đạt 50,2%, trồng rừng không chỉ đem lại tác dụng phòng hộ mà thực sự đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá, nhiều hộ gia đình, công ty lâm nghiệp giàu lên từ trồng và kinh doanh rừng. Ai cũng hiểu trong thành công này có sự góp sức rất lớn của chất lượng cây giống vì quyết định tới năng suất, chất lượng rừng trồng. Vì vậy để quản lý tốt việc sản xuất, kinh doanh và chất lượng cây giống trồng rừng theo chuỗi hành trình đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế thì cần có sự rà soát quy hoạch mạng lưới nguồn giống, có sự hỗ trợ một phần về giá đối với sử dụng giống tốt để nâng cao hiệu quả đầu tư trồng rừng vừa nâng cao nhận thức của cộng đồng về sử dụng giống tốt, khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế được tham gia sản xuất, cung ứng và sử dụng giống. Có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với hoạt động chọn tạo, tìm tòi, phát hiện giống tốt, có chất lượng cao. Nghiên cứu hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp qui, tạo hành lang pháp lý thông thoáng để phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa phương, cơ sở trong quá trình triển khai thực hiện.
Lan Hương