Trong những năm qua, sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN) trên địa bàn tỉnh đã có sự phát triển nhất định. Sản phẩm của TTCN đa dạng phong phú, phục vụ cho dân sinh và xuất khẩu như hàng gốm sứ, chế biến gỗ, mộc, đúc, rèn, thêu ren, thuỷ tinh, ngọc trai... Tuy giá trị sản xuất của các sản phẩm TTCN không lớn, song đã góp phần xoá đói giảm nghèo và giải quyết nhiều lao động địa phương. Tuy nhiên, kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của địa phương và một số ngành nghề truyền thống của tỉnh đang dần bị mai một và không có chỗ đứng trên thị trường.
Đa dạng nguồn nguyên liệu
Ở Quảng Ninh có các nguồn nguyên liệu dồi dào có ưu thế để phát triển TTCN như song, mây, giàng giàng, tre, nứa, nguyên liệu sét, cao lanh trắng... Đặc biệt là than của vùng Cẩm Phả phục vụ cho chạm khắc than đá tạo ra những sản phẩm độc đáo phục vụ cho khách du lịch và xuất khẩu.
Có thể nói, ngành nghề điêu khắc than đá là ngành nghề độc nhất ở Quảng Ninh vì nguyên liệu chính là than cục. Hiện tại ở TP Hạ Long và TP Cẩm Phả còn khoảng 70 thợ điêu khắc than đá lành nghề cùng 40 hộ đang còn sản xuất rải rác ở các khu phố cung cấp hàng mỹ nghệ than đá cho các điểm đại lý bán hàng cho khách du lịch. Bên cạnh đó, tỉnh còn có trên 22.000ha rừng tre nứa tập trung ở các vùng Hoành Bồ, Ba Chẽ, Tiên Yên phục vụ cho nhu cầu sản xuất giấy bao bì, giấy vàng mã và tre dùng vào đan lát các sản phẩm thủ công. Cùng với diện tích tre gai, tre nhà ngà, tre vầu bương ở vùng đồng bằng, tre trúc vùng Hoành Bồ, Uông Bí, Cẩm Phả, Tiên Yên do các hộ dân tự trồng cũng có thể làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như mành trúc, hàng tre hun… Một số vùng đá trắng Hoành Bồ, đá màu mỹ nghệ ở Quảng Sơn, Tấn Mài, Đầm Hà… có thể phục vụ cho chạm khắc các sản phẩm mỹ nghệ đá trắng, đá màu.
Tuy nhiên, hiện nay các nguyên liệu như song, mây, giàng giàng có nhiều ở vùng rừng của tỉnh vẫn chưa được sử dụng một cách hiệu quả mà phần lớn vẫn là do nhân dân địa phương đang khai thác để bán sang Trung Quốc. Các nguyên liệu như đay, cói, trước đây được trồng nhiều ở các vùng nước lợ Phương Nam (Uông Bí), Hà An (Quảng Yên) đến nay đang bị mai một dần. Chiếu cói Phương Nam, Hà An đã dần mất chỗ đứng trên thị trường... Hiện tại, ngành nghề mây tre đan trên địa bàn tỉnh đang được sản xuất tại các thôn, xã của TX Quảng Yên các mặt hàng chủ yếu là: thuyền nan, lờ, đó, nơm, giành đựng hàng...
Nâng cao năng lực sản xuất và tiêu thụ
Thực tế hiện nay, các cơ sở sản xuất thủ công nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc là hộ gia đình. Do đó, hầu hết là vốn nhỏ, chủ yếu là tổ chức sản xuất để giải quyết công việc làm và đời sống của gia đình nên hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của sản phẩm không cao. Vì thế, cần có các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ hoạt động các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ tự nâng cao năng lực sản xuất, quản lý điều hành để thành lập doanh nghiệp, HTX. Theo đó, các doanh nghiệp, HTX này sẽ đảm nhận vai trò quyết định sản xuất hàng gì, sản phẩm gì, giao hàng ở đâu đều do doanh nghiệp đảm nhận. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm thì hệ thống phân phối cũng cần được các cơ quan chức năng và doanh nghiệp quan tâm. Ngoài các hình thức như uỷ thác xuất khẩu, hợp đồng xuất khẩu các cơ sở TTCN đã thực hiện cần có các trung tâm giới thiệu bán hàng tiểu thủ công nghiệp ở các khu du lịch: Hạ Long, Tuần Châu, Bãi Cháy, Vân Đồn, Móng Cái... kết hợp với quảng bá, giới thiệu với khách du lịch trong nước và quốc tế.
Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Nguyễn Lương Tá, Chủ tịch Liên minh HTX-DNNQD Quảng Ninh cho rằng: Song song với việc thành lập các doanh nghiệp, tổ chức cơ sở sản xuất, các địa phương cũng cần dành quỹ đất cho xây dựng cụm, điểm công nghiệp với diện tích từ 1-2ha để các đơn vị này tổ chức những công đoạn cần làm tập trung như chế biến nguyên liệu, sấy, hun, hoàn thiện sản phẩm, kho chứa nguyên liệu, thành phẩm, cơ sở văn phòng làm việc nghiên cứu kỹ thuật của doanh nghiệp. Thực hiện du nghề mới, truyền nghề mới phát triển tại các thôn xã, nhân cấy nghề và phát triển đa ngành nghề ở cùng một địa phương.
Thanh Phong
| Trong giai đoạn 2008-2012, tỉnh Quảng Ninh đã triển khai được 177 đề án khuyến công (bao gồm 12 đề án quốc gia và 165 đề án khuyến công địa phương) với tổng số kinh phí hỗ trợ là trên 8,9 tỷ đồng. Theo đó để thu hút được trên 159,4 tỷ đồng đầu tư từ các đơn vị, cơ sở thực hiện đề án. Số cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) cũng như giá trị sản xuất của khu vực CNNT tăng đáng kể; đặc biệt là đã xoá được các vùng trắng công nghiệp tại một số huyện vùng cao biên giới, hải đảo như Bình Liêu, Cô Tô. Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề cho lao động nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực. Giai đoạn 2008-2012 đã có 1.950 lao động được đào tạo nghề và tạo việc làm, 1.120 học viên được đào tạo nâng cao tay nghề, khởi sự doanh nghiệp và nâng cao năng lực quản lý. Bên cạnh đó, hoạt động khuyến công đã tạo dựng và gắn kết mối quan hệ giữa các địa phương và các đơn vị, cơ sở, doanh nghiệp và HTX sản xuất CN-TTCN trên địa bàn, tạo sự đồng thuận trong việc hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế khu vực nông thôn. |