Trong ngành than, an toàn lao động không chỉ nằm ở khẩu hiệu, hay các đợt cao điểm, mà bắt đầu từ cách doanh nghiệp tổ chức sản xuất, nhận diện nguy cơ và đầu tư công nghệ. Với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), tư duy ấy đang thể hiện rõ hơn trong từng dây chuyền, từng ca sản xuất, nhất là khi điều kiện khai thác ngày càng xuống sâu, địa chất phức tạp, yêu cầu bảo đảm an toàn ngày càng cao.
TKV hiện có 63 đơn vị thành viên, trên 92.000 lao động, trong đó 18 đơn vị sản xuất than và xây lắp mỏ. Với quy mô sản xuất lớn, TKV xây dựng hệ thống quản lý an toàn từ cấp tập đoàn đến cơ sở, gồm Ban An toàn, Trung tâm Cấp cứu mỏ, Trung tâm An toàn mỏ, Bệnh viện Than - Khoáng sản, các phòng an toàn tại đơn vị và mạng lưới an toàn vệ sinh viên tại công trường, phân xưởng.
Ngay từ đầu năm 2026, TKV đã ban hành kế hoạch triển khai Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động; 100% đơn vị thành viên đều thành lập Ban Chỉ đạo, kiện toàn Hội đồng ATVSLĐ, phân công rõ người, rõ việc.
Điểm đáng chú ý là TKV không chỉ dừng ở tuyên truyền, kiểm tra, mà chuyển mạnh sang quản trị rủi ro bằng công nghệ. Theo ông Trần Cao Cường, Trưởng Ban An toàn TKV, Tập đoàn xác định 12 nhiệm vụ trọng tâm về ATVSLĐ, trong đó nâng cao khả năng nhận diện nguy cơ, rủi ro và ý thức tự chủ an toàn của người lao động giữ vai trò cốt lõi. TKV đã ứng dụng AI, xây dựng các clip mô phỏng thực tế ảo về tình huống mất an toàn và biện pháp phòng ngừa. Hết quý I/2026, khối sản xuất than đã xây dựng 152 video, clip phục vụ tuyên truyền, huấn luyện.
Cùng với đó, TKV đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa để giảm sức lao động thủ công ở những vị trí nặng nhọc, nguy hiểm. Toàn tập đoàn đã đưa vào hoạt động 14 lò chợ cơ giới hóa đồng bộ, nhiều máy đào lò combai và các hệ thống bán cơ giới hóa đào lò hiện đại. Các đơn vị cũng triển khai phần mềm lệnh sản xuất, quản lý vật tư, kiểm tra kiến thức an toàn trực tuyến, qua đó giảm phụ thuộc vào lao động thủ công ở những vị trí nguy hiểm.
Những giải pháp đó góp phần cải thiện rõ kết quả an toàn. Năm 2025, toàn Tập đoàn xảy ra 8 vụ tai nạn lao động, làm 10 người tử vong, giảm 50% số vụ và 60% số người chết so với năm 2024. Đây là kết quả của quá trình đầu tư đồng bộ, kiểm soát hiện trường chặt chẽ và nâng cao ý thức tự chủ an toàn từ người lao động.
Tại Công ty CP Than Mông Dương, yêu cầu an toàn đặt ra gay gắt hơn khi đơn vị đang khai thác từ mức -250 lên -100 và tiếp tục đào lò, khai thông xuống mức -400, thuộc nhóm mỏ khai thác sâu nhất TKV hiện nay. Độ sâu lớn kéo theo hệ thống thông gió, vận tải, đi lại phức tạp với giếng đứng, toa xe chở người lò bằng, lò nghiêng. Nếu doanh nghiệp không kiểm soát chặt ngay từ đầu ca, nguy cơ mất an toàn có thể phát sinh ở nhiều khâu.
Ông Ngô Xuân Thủy, Phó Giám đốc Công ty CP Than Mông Dương cho biết: Công ty xác định 2 trụ cột trong quản lý an toàn là con người và kỹ thuật. Về con người, đơn vị tổ chức sát hạch kiến thức an toàn vào sáng thứ Hai hằng tuần; hằng quý huấn luyện ATVSLĐ cho toàn bộ cán bộ, công nhân viên. Các phòng, ban, phân xưởng trực tiếp đưa hình ảnh, tình huống có nguy cơ mất an toàn để công nhân phân tích, nhận diện và tự đưa ra giải pháp phòng ngừa.
Về kỹ thuật, Than Mông Dương tập trung kiểm soát các điều kiện đi lại, thông gió, vận tải người, vận tải vật tư trong hầm lò. Việc vận hành hệ thống giếng đứng, toa xe chở người, lò nghiêng đòi hỏi công ty phải thường xuyên kiểm tra thiết bị, tuyến đường, tiết diện lò, chất lượng thông gió và phương án thoát hiểm. Công ty cũng thực hiện giao ca, nhận lệnh điện tử không giấy tờ. Cách làm này rút ngắn thủ tục hành chính, dành thêm thời gian cho quản đốc và nhóm công nhân trao đổi kỹ hơn về vị trí làm việc, nguy cơ trong ca và biện pháp an toàn trước khi đưa thiết bị vào sản xuất.
Ở khai thác lộ thiên, Công ty CP Than Hà Tu thể hiện sự chủ động qua việc hiện đại hóa quản lý hiện trường. Công ty hiện có 1.827 lao động, trong đó 965 người làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATVSLĐ, 1.368 người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
Than Hà Tu đang triển khai mô hình “Mỏ thông minh” với 141 thiết bị giám sát hành trình GPS trên phương tiện, máy móc; 210 camera cố định tại các vị trí trọng yếu; 16 camera 360 độ giám sát khai trường; 5 hệ thống đếm chuyến tự động không dừng tại bãi thải; 11 hệ thống phun sương cao áp dập bụi tự động tại khu vực sàng tuyển, bãi thải, kho than. Công ty cũng vận hành phần mềm giao ca trực tuyến, hệ thống quản lý nhiên liệu tự động, qua đó kiểm soát tốt hơn thiết bị, cung độ vận tải, môi trường làm việc và các nguy cơ mất an toàn trên khai trường.
Khi doanh nghiệp chủ động từ gốc, người lao động có thêm điều kiện làm việc an toàn hơn, còn sản xuất giữ được nhịp ổn định, bền vững hơn.