Đông Triều: Xây dựng các vùng sản xuất tập trung

Phát huy thế mạnh của một huyện trọng điểm về nông nghiệp của tỉnh, những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Đông Triều đi theo hướng nâng cao năng suất, giá trị trên mỗi diện tích nhằm vươn tới đích sản xuất hàng hoá. Từ đó, nhiều diện tích được quy hoạch thành các vùng sản xuất tập trung (VSXTT) phù hợp với điều kiện của từng địa phương, áp dụng KHKT vào sản xuất, gắn sản xuất với xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân.

Vườn hoa của hộ gia đình ông Nguyễn Đức Đào (thôn Quảng Mản, xã Bình Khê) nằm trong quy hoạch vùng trồng hoa tập trung của huyện Đông Triều.
Vườn hoa của hộ gia đình ông Nguyễn Đức Đào (thôn Quảng Mản, xã Bình Khê) nằm trong quy hoạch vùng trồng hoa tập trung của huyện Đông Triều.

Chú trọng các vùng lúa

Đông Triều có nhiều loại nông sản phong phú, nhưng cây lúa vẫn được đặc biệt coi trọng, nhất là khi quy hoạch các VSXTT (10ha trở lên/vùng). Năm 2013, huyện quy hoạch 231 VSXTT (gần 6.760ha) thì riêng lúa đã chiếm 126 vùng. Trong đó, có 74 vùng sản xuất lúa chất lượng cao (trên 1.436ha); 21 vùng lúa chất lượng cao và nếp cái hoa vàng (303ha); 37 vùng sản xuất lúa 2 vụ và trồng màu (718ha). Việc quy hoạch này là để thuận lợi cho canh tác và cơ giới hoá, thực hiện mục tiêu đến năm 2015 đạt 3.780ha lúa chất lượng cao, chiếm trên 80% diện tích lúa.

Bên cạnh cây lúa, quy hoạch các VSXTT khác trên cơ sở diện tích đã có, tiếp tục quy hoạch lại. Như vùng trồng hoa, cây cảnh hiện mới có VSXTT tại xã Bình Khê (khoảng 35ha); 10 vùng chuyên trồng rau màu (79ha); 20 vùng cây ăn quả (hơn 950ha). Trong đó, cây vải 3 vùng (67ha) tại xã Bình Khê; cây na (cho hiệu quả và thu nhập khá ổn định, hiện có khoảng 1.000ha) 6 vùng (731ha), chủ yếu ở các xã An Sinh, Việt Dân, Tân Việt…; cây thanh long ruột đỏ 4 vùng (51ha) ở các xã An Sinh, Bình Khê, Tràng An, Tràng Lương; cam V2 có 3 vùng (46ha) và cam Canh, bưởi Diễn 2 vùng (17ha) ở Việt Dân. Hiện có 13 vùng quy hoạch tập trung trồng cây lâm nghiệp (trên 1.900ha) chủ yếu là thông nhựa, keo, bạch đàn...
Xác định chăn nuôi là ngành mũi nhọn trong nông nghiệp, huyện quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung thành 13 vùng (gần 209ha). Trước mắt, xây dựng 2 khu chăn nuôi tập trung ở các xã Bình Khê và Nguyễn Huệ. Huyện cũng đã quy hoạch 43 vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung (1.134ha). Ngoài ra, một số xã đã tìm cách chuyển đổi vùng cấy lúa kém hiệu quả hoặc vùng bãi trũng, bãi ngoài đê sang nuôi trồng thuỷ sản.

Theo ông Ngô Thành Chiến, Phó Chủ tịch UBND huyện, nguồn vốn của địa phương năm nay sẽ tập trung đầu tư cho hạ tầng các vùng sản xuất này, như thuỷ lợi, giao thông nội đồng; tiếp tục chỉ đạo mạnh việc dồn điền, đổi thửa. Huyện đã xây dựng được 2 nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm na dai và gạo nếp cái hoa vàng, từ đây đã góp phần nâng cao giá trị nông sản trên thị trường. Tuy nhiên, việc xây dựng thương hiệu tốn kém, lại mất nhiều thời gian, nên năm nay địa phương sẽ chú trọng hơn tới việc xây dựng các nông sản đảm bảo VSATTP. Việc xây dựng thương hiệu sẽ chỉ làm với một số sản phẩm độc quyền của địa phương như sữa tươi, gốm sứ...

Khó cũng từ... các vùng lúa

Năm qua, các giống lúa chất lượng cao của huyện được gieo cấy đạt 65% diện tích, thuộc phần lớn các vùng sản xuất lúa tập trung. Từ hiệu quả thực tế, nhận thức của người dân được nâng lên, hạn chế dần những giống chất lượng thấp. Có những xã, giống chất lượng cao đạt trên 90% diện tích. Tuy nhiên, cơ chế, cách làm để phát triển theo đúng tính chất những vùng sản xuất lúa tập trung vẫn còn nhiều cái khó. Như hiện nay, huyện hỗ trợ vật liệu cho xây dựng kênh mương nội đồng, nhưng phần đào mương, tạo nền người dân phải bỏ ra. Mức đối ứng tới cả tỷ đồng nên rất khó thực hiện. Thêm nữa, chỉ tiêu năm nay của địa phương là trên 80% diện tích cấy lúa chất lượng cao, trong đó 70% các vùng lúa tập trung phải gieo trồng cùng một loại giống. Nhưng các địa phương chậm đăng ký giống gieo cấy, trong khi số lượng giống lúa chất lượng cao chưa thực sự chủ động được, năm nay rét kéo dài, nếu lúa chết rét thì khó bổ sung kịp. Các vùng này lại có số hộ lớn (trăm hộ), nên tính thống nhất, tập trung càng khó hơn, đòi hỏi các xã phải rất quyết liệt thì mới thành công.

Quy hoạch VSXTT sẽ thuận lợi cả về chỉ đạo, điều tiết, chăm bón, phòng trừ sâu bệnh cũng như khâu thu hoạch khi đưa cơ giới hoá vào sản xuất; các doanh nghiệp đến thu mua cũng rất thuận lợi... Tuy nhiên, nhiều xã hiện nay việc quy hoạch VSXTT còn manh mún, phân tán, dàn trải, diện tích còn nhỏ. Ngay như sản phẩm gạo nếp cái hoa vàng đã được cấp nhãn hiệu tập thể, nhưng một số xã nằm trong vùng nguyên liệu vẫn gặp khó khi quy hoạch VSXTT.

Bên cạnh đó, vấn đề “đầu ra” cho nông sản cũng đang là mối lo không nhỏ. Theo anh Bùi Văn Hanh, Phó Phòng NN-PTNT huyện: Hiện nay, với các giải pháp tháo gỡ của địa phương cùng với cung-cầu còn cân đối, khâu sản xuất - tiêu thụ nông sản trên địa bàn vẫn khá hài hoà. Nhưng trong một tương lai không xa, khi các VSXTT mở rộng sẽ tạo ra khối lượng sản phẩm rất lớn. Khi ấy, vấn đề đầu ra sẽ là cái khó nhất cần giải quyết, để đảm bảo quyền lợi cho người nông dân.

Ngọc Mai

Cùng chuyên mục