Đưa Quảng Ninh trở thành tỉnh công nghiệp

Là một tỉnh có nền tảng phát triển công nghiệp, trong quá trình đổi mới và hội nhập, Quảng Ninh giữ được vị thế cao, luôn là địa phương đứng trong tốp đầu về giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Quảng Ninh có nhiều thế mạnh để phát triển công nghiệp, được sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và các cấp chính quyền đã tạo nên sự hoà quyện hỗ trợ trong “thế trận chung”. Từ đó tăng trưởng của các ngành kinh tế trong khối công nghiệp qua nhiều năm luôn “dàn hàng ngang” để cùng tiến, tạo nên sự phát triển ổn định và bền vững.

Trong 5 năm gần đây, kể cả vào giai đoạn suy thoái chung của nền kinh tế thế giới, sản xuất công nghiệp của tỉnh ta vẫn có mức tăng trưởng trên dưới 14% mỗi năm. Năm 2006 giá trị sản xuất công nghiệp đạt được 15.991 tỷ đồng; trong đó công nghiệp địa phương chỉ chiếm 10% thì đến 2010 đã tăng lên 27.338 tỷ đồng và điều đáng ghi nhận, lĩnh vực công nghiệp địa phương có những bứt phá, chiếm đến 19,7% tổng giá trị SXCN.

Một số ngành công nghiệp chủ đạo có sự phát triển ấn tượng, trong đó sản xuất than sạch đạt 42 triệu tấn, quy mô khai thác ngày càng hiện đại với công nghệ cao, sự đầu tư lớn. Trách nhiệm bảo vệ môi trường và việc quản lý tài nguyên trong ranh giới mỏ được ngành Than quan tâm làm tốt hơn. Ngoài việc đảm bảo công ăn việc làm cho hơn 10 vạn công nhân trên địa bàn, ngành Than có những tác động liên đới theo hướng tích cực đến các ngành kinh tế khác và toàn xã hội. Để ngành Than có lợi thế hơn cần sớm phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Than đến năm 2015, tầm nhìn 2025 làm cơ sở cho công tác quản lý và xác định quy mô sản xuất, tạo thuận lợi cho ngành Than có những đóng góp tích cực hơn cho tỉnh. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện, tỉnh ta có rất nhiều lợi thế bởi có nguồn nhiên liệu tại chỗ dồi dào. Theo quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến 2025 tại Quyết định số 110/2007/QĐ-TTg Chính phủ phê duyệt cho tỉnh ta có 9 nhà máy nhiệt điện với tổng công suất 5.340MW. Trong đó một số nhà máy có công suất lớn Mông Dương 1 và Mông Dương 2 (2.200MW) và có 6 nhà máy công suất đến 600 MW. Ngoài ra, một số dự án nhiệt điện đang được nghiên cứu đầu tư như Cẩm Phả 3 (270 MW), Hải Hà (2.000 MW), Điền Công (600 MW). Nhìn chung, các dự án phát triển điện lực trên địa bàn được tỉnh tạo điều kiện thuận lợi nên đảm bảo tiến độ thi công.

Trong lĩnh vực đóng tàu và cơ khí, có những khởi sắc. Năm 2010 vượt qua những khó khăn nội tại, ngành đóng tàu ở Quảng Ninh đạt mục tiêu sản xuất 700.000 tấn phương tiện thuỷ, tăng gấp 5,3 lần so với năm 2006. Tỷ lệ nội địa hoá đã chiếm từ 30 đến 40% thiết bị trên mỗi con tàu, mang lại giá trị làm lợi hàng trăm tỷ đồng. Công ty đóng tàu Hạ Long là doanh nghiệp đầu tiên trong cả nước đóng các loại tàu vượt đại dương có trọng tải lớn, kỹ thuật cao như tàu chở hàng rời trọng tải 5,3 vạn tấn và hướng tới đóng những con tàu trọng tải 10 vạn tấn. Đồng thời doanh nghiệp còn đóng loại tàu có sức chở 4.900 ô tô, tàu chuyên chở container 1.700 TEU… Công ty chế tạo máy có tập đoàn máy cái với quy mô lớn. Bên cạnh đó, ngành cơ khí còn có doanh nghiệp lắp ráp ô tô trọng tải lớn, có năm bán ra thị trường được trên 500 xe. Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ siêu trường siêu trọng làm ra những sản phẩm hiện đại. Đến nay ngành cơ khí đã góp phần thiết thực phục vụ công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, nông lâm ngư nghiệp và sản phẩm cơ khí tiêu dùng.

Quảng Ninh là nơi tập trung nhiều nhà máy sản xuất xi măng, đến năm 2020 sẽ đạt tổng sản lượng 12,07 triệu tấn. Những nhà máy đang hoạt động ở tỉnh ta đều thuộc tầm lớn nhất nước như nhà máy xi măng Hạ Long vốn đầu tư 6.500 tỷ đồng, công suất 2,07 triệu tấn/năm; Thăng Long công suất 2,3 triệu tấm/năm; VINACONEX Cẩm Phả 2,3 triệu tấn/năm… Các nhà máy trên đều sử dụng dây chuyền công nghệ cao của các nước Pháp, Đức, Đan Mạch… nên có công suất lớn, chất lượng tốt và giảm thiểu ô nhiễm môi trường xuống mức thấp. Một sản lượng nhất định của xi măng làm ra trên địa bàn tỉnh được xuất bán sang một số nước ở Châu Phi, Lào, Trung Quốc… Tỉnh ta có những cánh đồng đá vôi chiếm trên diện tích lớn, đây là lợi thế để mở rộng sản xuất xi măng trong những năm tới.

Trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, hiện có 19 cơ sở làm gạch ngói nung bằng lò tuynel với 27 dây chuyền, tổng công suất thiết kế 535 triệu viên/năm. Đi theo hướng tiết kiệm nguyên liệu để làm ra sản phẩm cùng định lượng nhưng có giá trị cao hơn đang là xu thế của ngành sản xuất VLXD. Tiêu biểu là Công ty Viglacera Hạ Long đã nâng tỷ lệ sản phẩm gốm mỏng lên 70% tạo ra lượng hàng hoá có giá trị gấp 50 lần so với gạch thông và ngói khi cùng dùng chung một lượng tài nguyên đất sét để sản xuất. Quảng Ninh là thị trường xây dựng lớn, hiện nay năng lực sản xuất gạch trên địa bàn mới đáp ứng được 70% nhu cầu. Những năm tới cần cân đối quy hoạch sản xuất vật liệu xây dựng, hướng ra miền Đông và đẩy mạnh quy mô sản xuất VLXD không nung. Tỉnh đã đẩy nhanh kế hoạch phát triển các khu công nghiệp với quy mô lớn như Hải Yên, Cái Lân, Việt Hưng; kết hợp cùng các cụm công nghiệp địa phương đã và đang mang lại giá trị sản xuất công nghiệp đáng kể.

Trọng Khang

Cùng chuyên mục