Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn, trong thời gian qua lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng của tỉnh liên tiếp có sự sụt giảm. Ước tính trong 10 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp chỉ đạt 6,2% kế hoạch và 98,6% so với cùng kỳ. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp giảm 6,6% so với năm 2011, trong đó: công nghiệp khai thác mỏ giảm 6,9%; chế biến giảm 6,3%; sản xuất tập trung và phân phối điện, ga... giảm 4,4%.
Khó khăn đang cộng dồn
Sự sụt giảm của các sản phẩm công nghiệp không chỉ tập trung ở sản xuất than mà diễn ra ở hầu hết các ngành. Cụ thể, sản xuất than sạch quý II giảm 5,3%, quý III giảm 6,1%, như vậy tính chung trong 10 tháng sản xuất được 32,736 triệu tấn, đạt 72,7% kế hoạch và bằng 93,2% so với cùng kỳ. Theo báo cáo của ngành Than, hiện lượng than tồn kho lên tới hơn 9,4 triệu tấn (trong đó than thành phẩm 6,7 triệu tấn). Để giải quyết vấn đề tồn kho này, tháng 9 vừa qua ngành Than đã được Thủ tướng phê duyệt giảm thuế xuất khẩu xuống 10% để hạ giá xuất khẩu than, tạo môi trường thuận lợi cạnh tranh với các nước xuất khẩu than khác trên thế giới.
Đồng chí Phạm Văn Mật, Phó Tổng Giám đốc Vinacomin cho biết: Với giá than thế giới đang thấp, nhiều nước thuế xuất khẩu than chỉ 0-5%, thì việc xuất khẩu than tăng đột biến trong quý IV cũng chưa khả thi. Tập đoàn cũng đã điều chỉnh sản lượng khai thác năm 2012 xuống còn 39 triệu tấn. Trong khi xuất khẩu than đang khó khăn thì nhu cầu than trong nước cũng không tăng so với cùng kỳ khi mà các hộ sử dụng lượng than lớn là xi măng đang lâm vào thảm cảnh không tìm được thị trường tiêu thụ, do bất động sản đóng băng; hộ điện sản xuất cầm chừng với sản lượng điện sản xuất tại Quảng Ninh quý I tăng 21,8% so cùng kỳ, quý II giảm 18,9%, quý III tăng 2,2%. Chính vì vậy, dù giá bán than cho điện tháng 9 vừa qua có tăng đi nữa cũng không bù đắp được giá than xuất khẩu giảm. Đồng thời với việc giảm về giá trị sản xuất, trong khi những chi phí trung gian giảm không nhiều như chi phí vật chất (nguyên liệu, nhiên liệu, động lực, vật chất khác…); chi phí dịch vụ (bưu chính viễn thông, bảo vệ, vệ sinh môi trường, vận tải,…). Đã dẫn đến hệ số chi phí trung gian trong giá trị sản xuất tăng, doanh nghiệp giảm lợi nhuận, giảm chi phí nhân công, giảm thuế. Tại hầu hết các công ty thuộc Tập đoàn, việc làm và thu nhập của công nhân đều phải giảm, thu nhập của người lao động bình quân ước năm của các công ty than Quảng Ninh chỉ đạt 84,2% so cùng kỳ. Với thực trạng này, theo tính toán của các cơ quan chuyên môn thì chỉ khi ngành Than giải phóng được tương đối lượng than tồn kho mới hi vọng tăng sản lượng sản xuất. Nhìn trên tổng thể, thì giá trị tăng thêm của ngành Than không thể cao hơn được mức 90% so cùng kỳ.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế suy giảm mạnh, nhu cầu tiêu dùng của xã hội không cao cũng đã đẩy ngành công nghiệp chế biến ngày càng có chiều hướng giảm. Cụ thể, trong tháng 9 giá trị sản xuất của ngành công nghiệp này tăng 5,7% so với cùng kỳ, sang tháng 10 mức tăng này đã bị chững lại chỉ còn 4,2% so với cùng kỳ, như thuỷ sản chế biến trong tháng 9 đạt 288 tấn, sang tháng 10 chỉ đạt 262 tấn. Bên cạnh đó, ngành sản xuất sản phẩm là khoáng phi kim loại chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong công nghiệp chế biến chế tạo lại tăng rất thấp. Cụ thể, xi măng trong tháng 10 sản xuất được 271.000 tấn (tăng 85.000 tấn so với tháng 9), gạch nung 75,5 triệu viên (tăng hơn 4 triệu viên so với tháng 9). Sản phẩm công nghiệp điện, nước thì lại tăng ở mức khiêm tốn, đặc biệt trong thời gian qua hầu hết các nhà máy nhiệt điện đều giảm 50% công suất.
Giải pháp thúc đẩy sản xuất
Theo tính toán của cơ quan chuyên môn thì dự báo cả năm 2012, giá trị sản xuất ngành công nghiệp (giá so sánh 1994) toàn tỉnh ước đạt 30.391 tỷ đồng, tăng 0,1% so cùng kỳ. Để đạt được kết quả này giải pháp tốt đã được xác định, đang triển khai thực hiện khá hiệu quả và cần phải quyết liệt hơn nữa đó là chủ động rà soát, nắm tình hình khó khăn của các doanh nghiệp để có phương án tháo gỡ, có cơ chế chính sách hỗ trợ kịp thời. Nhất là, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, tiêu thụ nhiều sản phẩm; xây dựng các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Khuyến khích các hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành các loại hình hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Hỗ trợ các doanh nghiệp trong các hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến đầu tư thương mại, tiếp cận thông tin thị trường. Khuyến khích các doanh nghiệp chuyển đổi theo hình thức công ty cổ phần, thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hoá khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
Cùng với đó, tiếp tục thực hiện các biện pháp để giảm tỷ trọng ngành gia công trong công nghiệp chế biến sử dụng đầu vào nhập khẩu, đòi hỏi kết cấu hạ tầng lớn mà giá trị gia tăng thấp. Tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp có giá trị tăng thêm cao hơn thông qua điều chỉnh chính sách thu hút FDI; khuyến khích đầu tư nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng theo hướng khuyến khích phát triển các cụm công nghiệp và hình thành chuỗi giá trị trong nước và xuất khẩu nhằm tạo sự liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển các KCN, KKT theo hướng các khu này làm hạt nhân cho hình thành các cụm công nghiệp. Tăng cường các biện pháp kêu gọi, khuyến khích thu hút đầu tư cho cơ sở hạ tầng theo hướng thu hút nhiều hơn đầu tư tư nhân thông qua các chính sách ưu đãi đầu tư, BT, BOT, PPP... Thu hút mạnh mẽ đầu tư của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vào hệ thống giao thông huyết mạch (thuỷ, bộ, đường sắt và sân bay) và ngành sản xuất điện nhằm đẩy nhanh thị trường điện.
Ngọc Lan