Giải pháp nào cho 12 dự án nghìn tỷ thua lỗ?

Theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Chính phủ về xử lý các tồn tại, yếu kém của các dự án nghìn tỷ thuộc các doanh nghiệp do ngành công thương quản, Bộ Công thương đã yêu cầu Vụ Kế hoạch phối hợp các đơn vị liên quan báo cáo cho Bộ trước ngày 10-2-2017 về 12 dự án kém hiệu quả có nguy cơ đóng cửa, phá sản.

Nhà máy sản xuất xơ sợi Đình Vũ, một trong những dự án nghìn tỷ kém hiệu quả.
Nhà máy sản xuất xơ sợi Đình Vũ, một trong những dự án nghìn tỷ kém hiệu quả.

Trong đó bao gồm: nhà máy sản xuất xơ sợi Đình Vũ, dự án nhà máy bột giấy Phương Nam, dự án nhà máy gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2, nhà máy nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol Dung Quất và nhà máy đạm Ninh Bình, đạm Hà Bắc, đạm DAP Lào Cai, DAP Hải Phòng, Ethanol Bình Phước, Ethanol Phú Thọ, nhà máy đóng tàu Dung Quất, dự án liên doanh giữa đối tác mỏ Quý Sa và nhà máy gang thép Lào Cai.

Cả theo báo cáo sơ bộ trước đây và thực tế, có thể thấy lý do thua lỗ hay không hiệu quả khá đa dạng: Ngoài đầu tư dở dang vì thiếu vốn, lãi suất vay vốn lưu động tại ngân hàng và tỷ giá tăng, hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn do chi phí tăng cao, sản phẩm có sức cạnh tranh kém trong bối cảnh dư cung và giá bán giảm sâu; không ngoại trừ những lý do liên quan trực tiếp hay gián tiếp ít nhiều là sự chi phối bởi lợi ích nhóm gắn với hạn chế về năng lực và trách nhiệm, chất lượng xây dựng, thẩm định và cơ chế quản lý của các dự án… Ngoài ra, có thể còn bộc lộ thêm những lý do đặc thù cụ thể khác của từng dự án.

Trên tinh thần quán triệt chủ trương, các quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết số 05, Hội nghị Trung ương 4 Khóa XII là: “Kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp theo nguyên tắc và cơ chế thị trường”, những dự án này cần được xử lý dứt điểm theo đúng Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nhằm kéo giảm nguy cơ mất vốn đầu tư, tiêu hao nguồn lực nhà nước, cũng như của xã hội.

Đặc biệt, cần có cái nhìn dài hạn về triển vọng cơ cấu kinh tế Việt Nam trong hội nhập và trong yêu cầu xây dựng nền kinh tế tự chủ, gắn mục tiêu kinh tế với mục tiêu tăng cường năng lực quốc phòng, bảo vệ tổ quốc và phát triển kinh tế biển.

Bởi vậy, một trong những nội dung cần làm ngay là tiến hành rà soát một cách nghiêm túc và khách quan cả 12 dự án, “đặt lên bàn cân” tất cả các nguyên nhân, bóc tách, làm rõ đâu là nguyên nhân khách quan, chủ quan, đâu là trách nhiệm thuộc tập thể và cá nhân; đặc biệt, cần làm rõ sự cần thiết và đánh giá tác động hai mặt của dự án, từ đó đưa ra các phương án xử lý, giải quyết phù hợp; tập trung vào các giải pháp xử lý hiệu quả và khả thi nhất về tài chính, thị trường và quản trị doanh nghiệp.

Theo đó, có thể chia 12 dự án thành ba nhóm khác nhau theo cấp độ cần thiết để xử lý riêng:

Thứ nhất, nhóm quan trọng, nên duy trì, nhưng chuyển dự án nhà máy đóng tàu Dung Quất theo cơ chế kết hợp kinh tế với quốc phòng, trước mắt giao cho quân đội quản lý, đồng thời chuyển đổi mục đích đầu tư và cơ chế quản lý dự án nhà máy gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2 sang thực hiện chủ yếu sản xuất thép đặc chủng, chuyên cung cấp cho đóng tàu, chế tạo vũ khí, thiết bị quân sự và tàu cá biển lớn, cũng như thép cao cấp phục vụ phát triển kinh tế, nhất là kinh tế biển đáp ứng nhu cầu đóng tàu vươn khơi hiện đang nóng và những ngành công nghiệp cơ khí chế tạo và hỗ trợ có nhu cầu ngày càng cao, có triển vọng xuất khẩu.

Thứ hai, nhóm cần thiết, đối với các dự án về sản xuất đạm và nhà máy nhiên liệu sinh học Bio-Ethanol thì xử lý theo những nguyên nhân cụ thể, với tinh thần tiếp tục duy trì, thúc đẩy cổ phần hóa và đồng bộ các giải pháp nhằm cải thiện hoạt động của chúng, đáp ứng nhu cầu tương lai ngày càng tăng của đất nước, tiến tới xuất khẩu.

Thứ ba, nhóm linh hoạt, với các dự án khác có thể linh hoạt xử lý cụ thể theo từng dự án đúng tinh thần bảo đảm cơ chế thị trường và không để thất thoát tài sản quốc gia, khuyến khích thực hiện cổ phần hóa và các hoạt động M&A, thậm chí cho phá sản hoàn toàn theo kiểu “thà đau một lần còn hơn kéo dài”, gây lãng phí nguồn lực quốc gia…

Hơn nữa, về lâu dài, cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và đổi mới cơ chế quản lý nhằm xiết chặt kỷ cương và nâng cao chất lượng quản lý đầu tư công, chống các hành vi lạm dụng, cơ hội chủ nghĩa và tham những chính sách trong quản lý các hoạt động đầu tư công nói riêng, quản lý kinh tế nhà nước nói chung, ngăn chặn ngay từ đầu không cho phép lặp lại và “đẻ thêm” những dự án thua lỗ nghìn tỷ kiểu như vậy…

Thực tế cũng cho thấy, công tác tham mưu và xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật còn không ít hạn chế. Chất lượng một số văn bản luật còn thấp, nên hay phải sửa đổi, bổ sung, thiếu ổn định. Đặc biệt, tình trạng cài cắm lợi ích nhóm, ngành trong khi tham mưu, xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật chưa được nhận diện đầy đủ và khắc phục triệt để, với những biểu hiện rất đa dạng và có mặt trong mọi cấp độ, lĩnh vực, từ công tác quản lý cán bộ, quy hoạch, đầu tư công và NSNN, đến các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp… Không ít cán bộ được bổ nhiệm thiếu minh bạch hoặc chỉ tuân thủ quy trình hình thức và không đáp ứng được cả về năng lực và trách nhiệm công vụ. Nhiều dự án đầu tư công không hiệu quả, gây thua lỗ, thất thoát, lãng phí và làm tăng nợ công cả nghìn tỷ đồng. Một số quy hoạch xây dựng bị phá vỡ và mất phương hướng, méo mó trong triển khai. Những yêu cầu quản lý bảo đảm an toàn và hài hòa lợi ích phát triển bền vững bị coi thường, tạo thêm áp lực quá tải hạ tầng và hệ lụy môi trường, cũng như các chi phí khắc phục đắt đỏ về sau…

Có thể nói, “quốc nạn tham nhũng” với biểu hiện mới cài cắm lợi ích riêng, lợi ích nhóm trong công tác tham mưu, xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật đã, đang và sẽ sớm hay muộn, trực tiếp và gián tiếp là nguyên nhân của hàng loạt vấn đề không chỉ gây bức xúc xã hội, mà còn làm sai lệch bản chất chế độ, tha hóa cán bộ, đe dọa sự phát triển ổn định hệ thống thể chế và sự lành mạnh nền kinh tế - tài chính quốc gia. Các doanh nghiệp phải gồng mình với các gánh nặng chi phí đủ loại và nguy cơ bỏ lỡ cơ hội hoặc chậm cải thiện sức cạnh tranh kinh doanh. Năng suất lao động và hiệu quả đầu tư xã hội chậm được cải thiện, trong khi phân hóa và bất bình đẳng xã hội tăng lên. Sự đoàn kết và đồng thuận xã hội bị tổn thương; Lòng dân không an; Năng lực, hiệu lực và uy tín quản lý nhà nước bị hạn chế, bị khai thác lạm dụng hoặc vô hiệu hóa…

Để pháp luật vì lợi ích chung xã hội, cần coi trọng hoàn thiện và tuân thủ nghiêm túc quy trình xây dựng luật; Bảo đảm vừa tăng tính chuyên nghiệp, khách quan, vừa tăng tính liên ngành và trách nhiệm cá nhân trong tham mưu, dự thảo, thẩm định, phản biện, đánh giá tác động hai mặt và thực thi các chính sách và luật định, giảm thiểu tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Đặc biệt, việc trao quyền luôn phải gắn với làm rõ trách nhiệm cá nhân và cơ chế kiểm soát quyền lực thực tế. Việc hoàn thiện pháp luật phải gắn với tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Luật pháp, chính sách phải phản ứng kịp thời hơn với mọi thay đổi, biến động của đời sống xã hội, thật sự trở thành động lực quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước, bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, minh bạch, khả thi, giảm thủ tục hành chính, các rào cản để giảm chi phí thực thi cho người dân, doanh nghiệp.

Thực tiễn đã, đang và sẽ luôn đòi hỏi cần có cơ chế hiệu lực và hiệu quả thực tế cao chống lại mọi sự cài cắm lợi ích riêng, lợi ích nhóm, tăng cường bảo vệ lợi ích quốc gia, toàn xã hội trong quá trình tham mưu, xây dựng và thực thi luật pháp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế ngày càng đầy đủ, sâu, rộng hơn.

Theo MINH PHONG - MINH TRÍ/nhandan.com.vn

Cùng chuyên mục