Giữ lửa làng nghề truyền thống

Trong dòng chảy phát triển kinh tế - xã hội, nhiều làng nghề truyền thống ở Quảng Ninh đang đứng trước những thay đổi lớn. Không ít nghề từng gắn bó với đời sống cộng đồng hàng trăm năm nay dần thu hẹp quy mô, thiếu lao động kế cận và gặp khó khăn trong tìm đầu ra cho sản phẩm. Những thách thức ấy đặt ra yêu cầu phải có những hướng đi mới để gìn giữ và phát huy giá trị của nghề truyền thống trong bối cảnh hiện nay.

Nghề đóng tàu vỏ gỗ Cống Mương (khu Phong Hải 8, phường Liên Hòa) là một trong những nghề truyền thống lâu đời, được hình thành từ hơn 400 năm trước. Năm 2014, làng nghề đóng tàu vỏ gỗ Cống Mương được công nhận là làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, hoạt động của làng nghề trầm lắng hơn. Nếu trước kia toàn làng có gần 30 xưởng đóng tàu với khoảng 500 lao động, mỗi năm đóng mới hàng chục chiếc tàu, thì nay còn khoảng 12 xưởng duy trì hoạt động với vài chục thợ. Công việc chủ yếu là bảo dưỡng, sửa chữa tàu cũ, trong khi đơn đặt hàng đóng mới gần như không còn.

Cán bộ phường Liên Hòa trò chuyện cùng ông Lê Đức Chắn nắm tình hình hoạt động của cơ sở.
Cán bộ phường Liên Hòa trò chuyện cùng ông Lê Đức Chắn nắm tình hình hoạt động của cơ sở.

Sự suy giảm này đến từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những thay đổi trong hoạt động khai thác thủy sản và các quy định về kích thước tàu đánh bắt khiến chi phí đóng mới tàu gỗ tăng cao; nguồn gỗ lớn để đóng thuyền ngày càng khan hiếm và nhu cầu đóng tàu gỗ của ngư dân cũng giảm dần.

Nghệ nhân Lê Đức Chắn (khu Phong Hải 8, phường Liên Hòa), người gắn bó nhiều năm với nghề đóng tàu, cho biết: Điều khiến những người làm nghề trăn trở không chỉ là câu chuyện sinh kế, mà còn là nguy cơ mai một của một nghề truyền thống đã gắn bó với vùng đất này qua nhiều thế hệ.

Trước những khó khăn đó, người làm nghề cũng tìm cách thích ứng với nhu cầu mới của thị trường. Bên cạnh việc sửa chữa tàu thuyền gỗ, một số cơ sở đã thử chuyển sang đóng thuyền buồm truyền thống với cánh buồm đỏ nhằm phục dựng hình ảnh thuyền cổ, phục vụ trưng bày và tạo điểm nhấn cảnh quan trong không gian du lịch vịnh Hạ Long. Tuy nhiên, hướng đi này mới ở quy mô nhỏ, đơn đặt hàng chưa nhiều. Một số hộ làm thêm các mô hình thuyền gỗ cỡ nhỏ để trưng bày, làm quà lưu niệm, song hoạt động vẫn cầm chừng, chưa đủ để khôi phục nhịp sống sôi động của làng nghề như trước.

Thực tế ở Cống Mương cũng phản ánh khó khăn chung của nhiều làng nghề trên địa bàn tỉnh. Trước sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự phát triển của sản xuất công nghiệp, nhiều nghề truyền thống đang dần thu hẹp quy mô. Phần lớn cơ sở sản xuất vẫn mang tính hộ gia đình, thiết bị đơn giản, thị trường tiêu thụ hạn chế; trong khi lao động trẻ ít gắn bó với nghề, đội ngũ nghệ nhân ngày càng lớn tuổi. Cùng với đó, các sản phẩm công nghiệp có giá thành cạnh tranh, mẫu mã đa dạng cũng khiến sản phẩm thủ công truyền thống gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ. Vì vậy, ở không ít nơi, làng nghề chỉ hoạt động cầm chừng, chủ yếu đáp ứng nhu cầu nhỏ lẻ hoặc tận dụng thời gian nông nhàn.

Người dân khu Tây Sơn, phường Bình Khê, chăm sóc mai cảnh Yên Tử. Ảnh: Phạm Tăng
Người dân khu Tây Sơn, phường Bình Khê, chăm sóc mai cảnh Yên Tử. Ảnh: Phạm Tăng

Theo bà Nguyễn Chi Mai, Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn Quảng Ninh, việc bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, đồng thời góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa của địa phương. Tuy nhiên, để làng nghề có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay, cần có những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, mở rộng thị trường và tạo điều kiện để người dân tiếp tục duy trì nghề.

Nhằm tạo động lực mới cho các làng nghề, Quảng Ninh đã xây dựng Đề án phát triển các làng nghề truyền thống trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch giai đoạn 2026-2030. Đề án đặt mục tiêu không chỉ bảo tồn các nghề truyền thống, mà còn khai thác các giá trị văn hóa đặc trưng của làng nghề, từng bước hình thành các điểm trải nghiệm, tham quan gắn với du lịch, qua đó tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Theo Đề án, tỉnh đặt mục tiêu công nhận 13 làng nghề và 4 làng nghề truyền thống; đồng thời, định hướng phát triển 13 làng nghề trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch và 14 nghề, làng nghề cần bảo tồn kết hợp với văn hóa, du lịch. Cùng với đó, tỉnh xây dựng bộ nhận diện du lịch làng nghề, hình thành ít nhất 3-5 mô hình làng nghề gắn với du lịch văn hóa cộng đồng; phấn đấu tăng lượng khách tham quan làng nghề 10-15% mỗi năm và nâng thu nhập lao động trong ngành nghề nông thôn lên gấp 2,5-3 lần so với năm 2020.

Theo định hướng này, tỉnh sẽ tập trung hỗ trợ các địa phương đầu tư hạ tầng làng nghề, đào tạo và truyền nghề cho lao động trẻ, khuyến khích cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và mở rộng kênh tiêu thụ... Đồng thời, các làng nghề sẽ được nghiên cứu phát triển theo hướng gắn với du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa, tạo thêm giá trị cho sản phẩm truyền thống.

Những giải pháp này được kỳ vọng sẽ góp phần từng bước khơi dậy tiềm năng của các làng nghề trên địa bàn tỉnh. Khi sản phẩm truyền thống được nâng cao giá trị, được kết nối với thị trường và các hoạt động du lịch, làng nghề không chỉ được bảo tồn, mà còn có thể trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn.

Cùng chuyên mục