Hải Hà: Để phát huy thế mạnh của "vựa chè"

Cây chè được xác định là cây công nghiệp chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao của huyện Hải Hà. Tuy nhiên, đến nay “vựa chè” của tỉnh vẫn chưa phát huy được hết tiềm năng, lợi thế.

Cây xoá đói, giảm nghèo

Với địa hình đồi núi, điều kiện thời tiết khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, cây chè được coi là cây có thế mạnh lớn nhất của huyện Hải Hà. Đặc biệt với những bãi đồi thoải trải rộng hàng chục ha thuận lợi cho phát triển các giống chè chất lượng cao.

Nhằm phát huy và nâng cao giá trị của cây chè, năm 2011, Bộ Khoa học và Công nghệ và UBND tỉnh đã hỗ trợ huyện trồng thêm 30ha chè giống Ngọc Thuý và Kim Tuyên thông qua dự án “Ứng dụng KHCN sản xuất và chế biến chè theo hướng VietGAP”. Tính từ năm 2004 đến nay, bằng các nguồn vốn hỗ trợ của tỉnh và huyện, người dân Hải Hà đã trồng mới được 393,2ha chè giống mới. Nâng tổng diện tích toàn huyện lên 987,279ha chè (chiếm 79,76% tổng diện tích đất trồng cây lâu năm). Một số giống chè có chất lượng cao, có khả năng chế biến chè đặc sản, như: Kim Tuyên, Thuý Ngọc, PH10, Keo Am Tích, Phúc Vân Tiên... Hiện các giống chè trên đều sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ sống cao, năng suất bình quân đạt 82 tạ/ha.

Người dân xã Quảng Long chăm sóc đồi chè.
Người dân xã Quảng Long chăm sóc đồi chè.

Trao đổi với chúng tôi, đồng chí Đặng Tuấn Hiệp, Phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hải Hà khẳng định: “Mỗi năm lượng chè qua sơ chế được các hộ dân ở đây xuất bán vào khoảng 1.600-2.000 tấn nhưng vẫn không đủ cung cấp cho nhu cầu thị trường. Với năng suất, sản lượng và giá thành ổn định, cây chè đã mang lại thu nhập ổn định cho trên 2.000 hộ dân trên địa bàn, trong đó có tới 90% số hộ thu nhập chủ yếu nhờ cây chè. Vì vậy, diện tích chè đã không ngừng được mở rộng. Bên cạnh đó, nhiều hộ gia đình từ chỗ trồng chè đến bán nguyên liệu đến nay đã tiếp tục đầu tư máy móc để sản xuất và chế biến chè tại chỗ. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia thu mua nguyên liệu, chế biến chè thành phẩm để bán ra thị trường với thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm”.

Để thương hiệu “chè Hải Hà” vươn xa

Mặc dù cây chè đã mang lại thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình và đóng góp vào sự phát triển của huyện, tuy nhiên, do chậm thay đổi cơ cấu giống, thiết bị lạc hậu, chủng loại sản phẩm đơn điệu… nên chè Hải Hà vẫn chưa vươn xa, đủ sức cạnh tranh với những sản phẩm tên tuổi khác trong cả nước cũng như có thể đứng vững được trên thị trường xuất khẩu.

Nguyên nhân chủ yếu là do những hạn chế trong canh tác, chế biến và khâu tiêu thụ chè. Qua kết quả điều tra sơ bộ của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè (Viện KHKT Nông - lâm - nghiệp miền núi phía Bắc) cho thấy, nguyên liệu từ các giống chè trên chưa được khai thác đúng mức, vẫn chủ yếu được sử dụng kết hợp với nguyên liệu của các giống chè cũ để chế biến chè xanh truyền thống nên giá thành sản phẩm chưa cao. Cùng với đó, phần lớn việc thu hái nguyên liệu đầu vào được người dân thu hái bằng máy hái chè hoặc bằng liềm cắt chè dẫn đến sản phẩm đầu ra thường có ngoại hình xấu, chất lượng không cao. Trên nương chè thường xuyên có hiện tượng vừa hái búp vừa phun thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến nguy cơ tồn dư thuốc BVTV cao.

Bên cạnh đó, khâu chế biến và tiêu thụ cũng còn tồn tại không ít hạn chế. Đơn cử, toàn huyện có 4 doanh nghiệp chế biến chè với quy mô lớn (công suất > 2,5 tấn chè búp tươi/ngày), thế nhưng các cơ sở này chủ yếu sản xuất chè sấy hoặc chè bom lăn xuất khẩu nên giá trị kinh tế không cao, với giá bán trung bình từ 35.000-40.000 đồng/kg. Còn lại 40 cơ sở chế biến chè mini, 300 lò sao thủ công và sản xuất nhỏ do các hộ trồng chè tự chế biến đều nằm trong tình trạng hoạt động cầm chừng, các trang thiết bị còn lạc hậu, thiếu đồng bộ cả về thiết bị lẫn thông số kỹ thuật (đặc biệt là các hộ dân tự chế biến bằng thiết bị thô sơ). Công nghệ chế biến chậm đổi mới, dẫn đến chất lượng chè thành phẩm thấp, tiêu thụ chủ yếu dưới dạng sản phẩm “thô” nên chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Điều đáng nói là hiện nay các doanh nghiệp và hộ dân tham gia chế biến chè đều phải tự tìm mối tiêu thụ và việc quảng bá sản phẩm chủ yếu bằng hình thức bày bán dọc theo đường quốc lộ…

Được biết, nhằm khắc phục những tồn tại trên, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chè đã cùng với huyện Hải Hà “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ chế biến một số sản phẩm chè xanh đặc sản (chè Mao Tiêm, chè Ngân Kim, chè xanh thơm) tại huyện Hải Hà”. Dự kiến thời gian thực hiện từ tháng 12-2014 đến hết quý II-2015 với tổng kinh phí trên 2 tỷ đồng. Theo đó, mô hình sẽ khai thác hiệu quả các giống chè mới có trên địa bàn, làm tăng giá bán khoảng 15-20% nguyên liệu búp tươi, và tăng từ  20.000 - 30.000 đồng một kg chè khô.

Như vậy, khi dự án thành công sẽ góp phần bổ sung một số sản phẩm chè xanh đặc sản mới trong cơ cấu sản phẩm chè của huyện. Việc phát triển chè đặc sản với giá cao sẽ tăng thu nhập của người làm chè, khuyến khích phát triển mở rộng diện tích chè, qua đó góp phần xây dựng Hải Hà thành trung tâm chế biến nông, lâm, thuỷ sản phục vụ xuất khẩu theo hướng nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở đó, phát triển thương hiệu chè Hải Hà, mở rộng thị trường nội tiêu và hướng đến xâm nhập vào các thị trường quốc tế lớn như: Nhật Bản, Mỹ, EU, Đài Loan.

Hoàng Nga

Cùng chuyên mục