Việc khôi phục Trung tâm Văn hóa nổi Cửa Vạn trên vịnh Hạ Long không chỉ gìn giữ một công trình đặc biệt, mà còn mở ra cơ hội đánh thức và nối dài không gian văn hóa vạn chài giữa lòng di sản.
Được đưa vào sử dụng năm 2006 với sự tài trợ của Chính phủ Na Uy, Trung tâm Văn hóa nổi Cửa Vạn là mô hình đầu tiên dành cho cộng đồng ngư dân tại Việt Nam, đồng thời trở thành điểm đến du lịch văn hóa đặc sắc giữa lòng vịnh di sản. Để hiểu rõ giá trị công trình, cần nhìn lại lịch sử hình thành cộng đồng cư dân Hạ Long. Theo ghi chép, cư dân ở đây bắt nguồn từ hai làng thủy cư Giang Võng và Trúc Võng. Từ đầu thế kỷ XIX, họ sống trên thuyền, theo ngư trường và thủy triều; sau năm 1946, dần tỏa ra các vùng kín gió như: Cửa Vạn, Ba Hang, Vung Viêng, Cặp La, Cống Tàu, trong đó Cửa Vạn là 1 trong 2 cộng đồng lớn nhất.
Chính đời sống giữa biển tạo nên văn hóa thủy cư đặc trưng: thuyền vừa là nhà, vừa là phương tiện mưu sinh; tri thức biển được truyền qua nhiều thế hệ, cùng ngư cụ, ẩm thực, tín ngưỡng và các làn điệu hát biển. Đời sống vạn chài được tái hiện qua sinh hoạt, mưu sinh và những biến đổi của cộng đồng, với các hiện vật như lưới, thuyền, nghi lễ cưới hỏi… tạo nên bức tranh sinh động về văn hóa thủy cư. Cửa Vạn vì thế mang giá trị lịch sử, văn hóa, phản ánh di sản con người giữa vịnh Hạ Long.
Không chỉ lưu giữ, nét văn hóa ấy còn tạo nên sức hút du lịch riêng. Nơi đây từng trưng bày hơn 1.000 tư liệu, hiện vật theo sáu chủ đề, kết hợp hát giao duyên, hò biển và trải nghiệm làng chài, biến Cửa Vạn thành một “bảo tàng sống” giữa lòng Di sản.
Tuy nhiên, sau bão Yagi tháng 9/2024, công trình bị hư hỏng nặng và phải dừng đón khách, khiến một không gian văn hóa đứng trước nguy cơ gián đoạn. Vì vậy, khi góp ý cho dự án, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã khẳng định giá trị của dự án, đồng thời nhấn mạnh văn hóa vạn chài chính là chiều sâu con người bổ sung cho giá trị thiên nhiên của Di sản.
Trên cơ sở đó, tháng 11/2025, Bộ tiếp tục khẳng định việc khôi phục Trung tâm là cần thiết, tạo cơ sở để Quảng Ninh triển khai dự án. Theo hồ sơ đề xuất, các khu đón tiếp, trưng bày và phụ trợ sẽ được phục hồi theo quy mô, hình thức kiến trúc cũ. Những mái nhà nổi, chòi nghỉ, cầu nối, cầu tàu và hoa văn sóng cách điệu sẽ trở lại trong dáng vẻ quen thuộc, nhưng trên hệ kết cấu có sức bền tốt hơn trước môi trường biển.
Theo ông Nguyễn Bá Căn, nguyên cán bộ Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử, người nhiều năm gắn bó, nghiên cứu về văn hóa biển, thì việc này góp phần bảo tồn, phát huy văn hóa bản địa, giúp thế hệ sau hiểu rõ cội nguồn và làm phong phú trải nghiệm du lịch.
Bởi vậy, công trình sau khôi phục không chỉ tái hiện hình ảnh từng gắn bó với Cửa Vạn, mà còn phục hồi không gian để những câu chuyện văn hóa vạn chài tiếp tục được kể. Trong những mái nhà ấy, hiện vật nghề cá, ngư cụ, hình ảnh sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng và tri thức ứng xử với biển có thể trở về đúng nơi chúng được hình thành. Kiến trúc được giữ lại để bảo toàn ký ức, còn giải pháp vật liệu mới tạo nền tảng cho công trình bền vững hơn giữa sóng nước.
Song, khôi phục Cửa Vạn không thể chỉ dừng ở việc dựng lại phần vỏ kiến trúc. Bộ còn yêu cầu bổ sung phương án bảo quản tài liệu, hiện vật và kế hoạch trưng bày sau khi công trình hoàn thành. Đây là cơ sở để tái lập mạch kể về nghề biển, tri thức dân gian, tập tục, tín ngưỡng; đồng thời bổ sung câu chuyện cộng đồng chuyển lên bờ từ năm 2014 và những biến đổi trong đời sống hôm nay. Khi đó, Cửa Vạn không chỉ kể về một quá khứ đã lùi xa, mà còn phản ánh sức sống và sự tiếp biến của văn hóa biển.
Từ yêu cầu ấy, không gian sau khôi phục có thể khai thác theo hướng mở, tăng tương tác: kết hợp trưng bày với phim tư liệu, lời kể cư dân; tổ chức hát giao duyên, hò biển, trình diễn nghề; xây dựng trải nghiệm học sinh, kết nối các điểm trên vịnh. Đặc biệt, người dân và con cháu vạn chài cần trở lại vai trò chủ thể kể chuyện, để hiện vật được đánh thức bằng ký ức cộng đồng.