Khai thác tiềm năng từ biển: Cần huy động nhiều nguồn lực

Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XIII vừa thông qua Luật Biển Việt Nam trong đó có cả một chương riêng về phát triển kinh tế biển nhằm động viên mọi nguồn lực của Nhà nước, công dân, các tổ chức trong và ngoài nước. Quảng Ninh nằm trong dải ven biển Bắc Bộ được đánh giá là vùng động lực có nhiều lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và con người; đồng thời có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh của vùng Đông Bắc của cả nước. Vì vậy để có thể mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển cần phải tập trung khai thác những ngành, lĩnh vực có lợi thế từ nhiều nguồn lực khác nhau.

Vẫn còn nhiều hạn chế

Ngay sau khi có Nghị quyết 09 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện, theo đó tập trung hướng vào khai thác các lĩnh vực có thế mạnh làm động lực thúc đẩy các vùng trong tỉnh phát triển, đồng thời tạo ra một khu vực mở cửa, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng giao lưu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường hợp tác đấu tranh giữ vững an ninh, quốc phòng và khả năng bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển đảo. Tất cả các dự án đầu tư trên phạm vi thuộc vùng biển và ven biển của tỉnh đều được xem xét kỹ hơn và có tính toán đến tầm ảnh hưởng khi triển khai thực hiện Nghị quyết 09. Kết quả sau gần 4 năm triển khai thực hiện tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực trên mọi mặt, nhất là chuyển biến về mặt nhận thức đối với các cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân về Chiến lược biển. Mục tiêu của Nghị quyết đã mở ra hướng đi và lộ trình thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình điều hành phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Khẳng định tính ưu việt khi thực hiện các mục tiêu chiến lược biển đối với địa bàn đặc thù của tỉnh, tạo ra niềm tin và cơ hội nhằm khuyến khích đầu tư từ các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong nước và quốc tế… trên cơ sở đó tạo đà phấn đấu đưa tỉnh trở thành tỉnh mạnh về biển, làm giàu từ biển kết hợp với đảm bảo quốc phòng an ninh vùng Đông Bắc của Tổ quốc.

Tuy đã đạt được một số kết quả tích cực nhưng nhìn chung thì các ngành kinh tế liên quan đến biển phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và mục tiêu đề ra. Quy mô nền kinh tế còn thấp, chất lượng tăng trưởng vẫn ở mức trung bình và luôn tiềm ẩn rủi ro và thiếu tính bền vững. Tốc độ tăng trưởng và phát triển mới giải quyết được một phần khó khăn của bà con nông ngư dân ở khu vực hải đảo và một số các xã đảo ven bờ. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn thấp kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một số ngành kinh tế biển chủ đạo như ngành kinh tế hàng hải đặt mục tiêu phấn đấu tổng sản lượng hàng hoá thông qua cảng đạt từ 40 triệu tấn/năm trở lên; kèm với đó là các nhiệm vụ và giải pháp tập trung phát triển cảng biển và mở rộng các dịch vụ cảng biển; hoàn thành tuyến đường sắt vào cảng và các dịch vụ hậu cần sau cảng… Nhưng sau gần 4 năm thực hiện mới đạt trên 32 triệu tấn/năm. Ngành công nghiệp đóng tàu cũng không hoàn thành kế hoạch mục tiêu đề ra, một loạt dự án triển khai chậm và kéo dài khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng, do khó khăn của Tập đoàn Vinashin nên một số dự án đóng tàu tại Hải Hà và Đầm Nhà Mạc (Quảng Yên), một phần đang được chuyển giao cho Vinaline và một phần bị dừng lại do không có khả năng thực hiện. Nhận thức về biển còn hạn chế, việc phát triển kinh tế biển chủ yếu là ngành khai thác và đánh bắt thuỷ hải sản theo phương thức truyền thống và lệ thuộc vào thiên nhiên. Ngành nông - lâm - ngư nghiệp và các ngành nghề khác phát triển chậm, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, văn hoá, giáo dục, y tế ở trình độ thấp. Một số ngành vẫn trong tình trạng phát triển “nóng” gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái như: Công nghiệp khai thác than, phát triển hạ tầng các khu đô thị lấn biển, nuôi trồng thuỷ hải sản nhỏ lẻ, phân tán, các xưởng sửa chữa tàu thuyền, du lịch - dịch vụ chưa được quy hoạch tập trung.

Cần tư duy mở mới

Phân tích về những nguyên nhân còn hạn chế trên thấy rằng do nguồn lực đầu tư tính trên một đơn vị diện tích vùng biển và ven biển của tỉnh là rất thấp nên việc đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển tại chỗ và giao lưu kinh tế. Phát triển kinh tế mang tính tự phát cũng làm ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các mục tiêu chiến lược biển. Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội chưa được xây dựng kịp thời; quy hoạch ngành và các lĩnh vực thiếu và yếu nhất là quy hoạch chung xây dựng. Công tác phối hợp thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết từ các sở, ngành và các địa phương chưa thực sự có hiệu quả. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, số người có trình độ trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và lao động qua đào tạo nghề còn rất thấp, đặc biệt một số dân sinh sống trên các đảo lại không biết nghề biển. Trình độ dân trí thấp, khả năng khai thác tài nguyên biển kém hiệu quả, phần lớn chưa được đào tạo vô tình làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái biển và vi phạm pháp luật trong quá trình khai thác. Công tác tổ chức chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ cho lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thuỷ sản còn nhiều hạn chế, chưa đủ mạnh. Các hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các khu vực ven bờ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái ven bờ và các bãi triều. Một số nguyên nhân khác như điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của khu vực biển và ven biển.

Từ những nguyên nhân trên cho thấy, để có thể phát huy được sức mạnh tổng hợp để khai thác tiềm năng, lợi thế từ biển, ngân sách Nhà nước cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng vùng ven biển, hải đảo từ đây tạo động lực lôi kéo nguồn lực đầu tư từ ngoài ngân sách. Các địa phương có biển cần chủ động xây dựng các biện pháp, cơ chế phối hợp và liên kết với các nhà đầu tư để đầu tư phát triển trên địa bàn biển đảo và ven biển. Và điều quan trọng nhất là tư duy về thực hiện hành động về biển cần có sự nhìn nhận mới hơn, mở hơn trong khai thác các ngành, lĩnh vực có lợi thế.

Nguyễn Thị Hải Ninh
(Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ)

Cùng chuyên mục