Kỷ luật và Đồng tâm” – từ một khẩu hiệu hành động trong cuộc tổng bãi công vang dội của hơn 3 vạn thợ mỏ năm 1936, đã xuyên suốt dòng chảy lịch sử gần một thế kỷ để trở thành cốt cách, bản sắc và sức mạnh nội sinh của giai cấp công nhân vùng Mỏ. Trong hành trình từ những tầng than nhuốm máu thời kỳ thực dân đến vị thế Tập đoàn kinh tế chủ lực của quốc gia, tinh thần ấy vẫn luôn là điểm tựa vững chãi nhất, giúp những người thợ mỏ vượt qua mọi dông bão, khẳng định sứ mệnh bảo đảm an ninh năng lượng và viết tiếp những trang sử hào hùng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, đặc biệt là đội ngũ thợ mỏ Quảng Ninh đã được viết nên bằng máu, mồ hôi và tinh thần bất khuất qua nhiều thế kỷ. Trở ngược dòng thời gian về năm 1840, khi Vua Minh Mạng ban chỉ dụ khai thác than tại vùng núi Yên Lãng, đó là những gạch nối đầu tiên của một ngành công nghiệp trọng yếu. Nhưng phải đến khi thực dân Pháp đặt ách cai trị, thiết lập Công ty Pháp mỏ than Bắc Kỳ (S.F.C.T) vào năm 1888, một hình thái sản xuất công nghiệp quy mô lớn mới thực sự hình thành. Đây chính là cái nôi, là nơi rèn đúc nên những thế hệ công nhân mỏ đầu tiên – những người nông dân nghèo khổ từ Thái Bình, Nam Định, Hải Dương... bị bần cùng hóa, bị dồn đuổi đến vùng mỏ để rồi nhận ra rằng, chỉ có con đường đấu tranh mới có thể giải phóng bản thân và dân tộc.
Trong bóng tối của những hầm lò, nơi thực dân Pháp sử dụng các phương thức bóc lột tàn nhẫn kết hợp giữa tư bản và phong kiến, ngọn lửa cách mạng đã được nhen nhóm. Từ những cuộc đấu tranh tự phát để đòi quyền sống, dưới sự soi đường của Đảng Cộng sản Việt Nam từ những năm 1930, phong trào công nhân vùng Mỏ đã có bước chuyển mình mạnh mẽ về chất, chuyển từ “tự thân” sang “tự giác”. Trong những năm 1930 – 1936, phong trào đấu tranh của công nhân vùng Mỏ tiếp tục phát triển. Từ đấu tranh tự thân đến đấu tranh tự phát, và phát triển lên đến đấu tranh tự giác khi phong trào đấu tranh của những người thợ mỏ có sự soi đường, chỉ lối của Đảng Cộng sản. Sẵn có lòng yêu nước, có tinh thần đấu tranh chống lại chủ mỏ Pháp, lại được sự lãnh đạo, hướng dẫn của tổ chức Đảng, phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân, lao động vùng Mỏ đã có bước phát triển mới. Từ tháng 3 tới tháng 10 năm 1930, ở các khu mỏ đã diễn ra trên 20 cuộc đấu tranh thu hút đông đảo công nhân tham gia, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của công nhân Nhà sàng Cửa Ông nổ ra ngày 8 tháng 4 năm 1930 và tiếp theo là cuộc đấu tranh trong cao trào cách mạng 1930 – 1931 của cả nước nói chung và các khu mỏ nói riêng.
Đỉnh cao là cuộc tổng bãi công của 3 vạn công nhân và nhân dân lao động vùng Mỏ vào đêm ngày 12/11/1936. Thắng lợi của cuộc Tổng bãi công phản kháng chế độ thực dân Pháp kéo dài 20 ngày, khởi đầu từ cuộc bãi công của 5000 công nhân và nhân dân lao động Cẩm Phả, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với khẩu hiệu “Kỷ luật và Đồng tâm, chúng ta nhất định thắng”, đã thành công và gây tiếng vang lớn trên toàn quốc, và ngày 12/11 trở thành Ngày Truyền thống vẻ vang của Công nhân Vùng mỏ - Truyền thống ngành Than.
Cuộc tổng bãi công năm 1936 không đơn thuần là một cuộc đình công đòi quyền lợi kinh tế, mà đã trở thành một bài học lịch sử về nghệ thuật tổ chức và đoàn kết. Khởi nguồn từ Cẩm Phả - nơi mâu thuẫn giai cấp tập trung gay gắt nhất, khẩu hiệu “Kỷ luật và Đồng tâm – Chúng ta nhất định thắng” đã vang lên, trở thành sợi dây liên kết vô hình nhưng bền chặt hơn bất cứ thứ vũ khí nào. Trong suốt 20 ngày đêm kiên cường, bất chấp sự đàn áp, lừa bịp của chủ mỏ và chính quyền thực dân, tinh thần kỷ luật tự giác đã giúp 3 vạn thợ mỏ giữ vững trận địa. Chiến thắng vang dội vào chiều ngày 20/11/1936 khi giới chủ phải chấp nhận mọi yêu sách không chỉ mang lại quyền lợi cho người lao động, mà còn khẳng định vị thế chính trị của giai cấp công nhân vùng Mỏ trên bản đồ cách mạng cả nước.
Giá trị của ngày 12/11 đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một mốc thời gian, trở thành Ngày truyền thống công nhân vùng Mỏ - Truyền thống ngành Than. Tinh thần ấy tiếp tục được hun đúc qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong khói lửa chiến tranh, thợ mỏ Quảng Ninh đã thực hiện xuất sắc khẩu hiệu “Tay búa, tay súng”, “Trận địa là nhà, vùng Mỏ là quê hương”. Những người thợ lò không chỉ đào than để phục vụ hậu phương và tiền tuyến mà còn trực tiếp cầm súng bảo vệ từng tầng than, bến cảng. Những danh hiệu Anh hùng Lao động, những tổ đội sản xuất Xã hội chủ nghĩa ra đời trong giai đoạn này chính là minh chứng sinh động cho việc vận dụng tinh thần “kỷ luật và đồng tâm” vào thực tiễn chiến đấu và sản xuất, biến niềm tin thành sức mạnh vật chất để giải phóng vùng mỏ vào ngày 25/4/1955 và góp phần thống nhất non sông.
Với hành trang “Kỷ luật và Đồng tâm”, kể từ khi tiếp quản vùng mỏ Quảng Ninh từ tay Thực dân Pháp (25/4/1955) đến những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, lớp lớp các thế hệ thợ mỏ đã luôn hăng hái thi đua trong chiến đấu, trong lao động sản xuất. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới và phát triển đất nước của thời kỳ hội nhập kinh tế toàn cầu, Tổng Công ty Than Việt Nam được thành lập (10/10/1994). Tiếp đến, năm 2005, Chính phủ đã quyết định thành lập Tập đoàn Than Việt Nam rồi thành Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam hiện nay; các thế hệ thợ mỏ Việt Nam đã hăng say lao động sản xuất. Các phong trào thi đua diễn ra liên tục, nối tiếp, lan tỏa rộng khắp các vùng miền, nơi những người thợ mỏ - chiến sĩ - đang ngày đêm tìm kiếm nơi lòng đất, khai thác thật nhiều than, khoáng sản để làm giầu cho Tổ quốc. Nhờ đó, chỉ trong hai thập kỷ, các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của Tập đoàn đã đạt mức tăng trưởng rất cao. Sản lượng than khai thác năm 1994 mới chỉ đạt hơn 7 triệu tấn, sau 20 năm đã tăng lên trên 40 triệu tấn/năm; cứ 5 năm tổng doanh thu toàn Tập đoàn lại tăng gấp đôi.
Hiệu quả sản xuất - kinh doanh tăng, thu nhập và đời sống của thợ mỏ được đảm bảo và cải thiện đáng kể, nhất là thợ lò - lực lượng lao động chủ lực tới đây khi Tập đoàn chuyển đổi sang khai thác hầm lò, luôn được ưu tiên cao nhất. Công tác an sinh xã hội trên địa bàn, nơi các đơn vị của Tập đoàn đứng chân, được quan tâm đúng mức. Công tác quản lý tài nguyên, chăm lo gìn giữ và cải thiện môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản được đặc biệt chú trọng và đạt những kết quả quan trọng. Vị thế và thương hiệu VINACOMIN được đánh giá cao trong nền kinh tế nước nhà cũng như trong con mắt bạn hàng quốc tế. Đảng và Nhà nước đã ghi nhận, phong tặng cho Tập đoàn những danh hiệu cao quý như Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang, Chiến sỹ thi đua toàn quốc; tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại. Năm 2014, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập, Tập đoàn đã vinh dự đón nhận Huân chương Độc lập hạng Ba.
Có thể khẳng định, tinh thần “Kỷ luật và Đồng tâm” đã tạo cho thợ mỏ nguồn sức mạnh vô cùng to lớn. Đồng chí Phạm Thế Duyệt, nguyên Uỷ viên Thường trực Bộ Chính trị; nguyên Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam - người đã từng gắn bó với ngành Than, chia sẻ: "Chỉ những ai gắn bó máu thịt với hòn than mới hiểu hết giá trị thiêng liêng của 5 chữ "Kỷ luật và Đồng tâm" bởi nó được xây dựng, được hun đúc từ máu xương, từ mồ hôi, nước mắt, từ sự hy sinh của bao thế hệ thợ mỏ Việt Nam". Quả thực, "Kỷ luật và Đồng tâm" là di sản vô giá của thợ mỏ Việt Nam.
Gần tối, xóm trọ của Phong tại Mễ Trì (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) rộn ràng hẳn lên. Hôm nay cả xóm được vợ chồng anh Minh, chị Lan mời liên hoan chia tay vì sắp chuyển đi. Cặp vợ chồng gần 40 tuổi, được mệnh danh là gắn bó với xóm trọ lâu nhất mới mua được một căn chung cư ở quận Hà Đông.
Trình bày: Hùng Sơn