Ngau sau phiên khai mạc kỳ họp thứ 6 - Kỳ họp thường lệ giữa năm 2026 của HĐND tỉnh khóa XV, nhiệm kỳ 2026-2031, các đại biểu HĐND tỉnh đã nghe các báo cáo, tờ trình, báo cáo thẩm tra của các Ban thuộc HĐND tỉnh. Đồng chí Trịnh Thị Minh Thanh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, chủ trì.
08:30 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Bùi Văn Khắng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trình bày báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội và công tác chỉ đạo điều hành 6 tháng đầu năm 2026; nhiệm vụ, giải pháp 6 tháng cuối năm 2026.
Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh, 6 tháng đầu năm tình hình kinh tế - xã hội đạt nhiều kết quả nổi bật; 21/21 chỉ tiêu chủ yếu tại Nghị quyết của HĐND tỉnh đều đạt và vượt tiến độ đề ra, nổi bật là:
Kinh tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm ước đạt 11,11%, xếp thứ 4 cả nước. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,47%; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11%; Khu vực dịch vụ tăng 14,27%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,85% so với cùng kỳ. Tổng số khách du lịch đạt 12,4 triệu lượt, tăng 2,8% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 4.862 triệu USD, tăng 16,9% so với cùng kỳ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 61,3 nghìn tỷ đồng, tăng 16,4% so với cùng kỳ. Tổng thu ngân sách nhà nước đến ngày 7/7/2026 đạt 62.324 tỷ đồng, tăng 105% so với cùng kỳ. Giải ngân vốn đầu tư công đạt 10.600 tỷ đồng, bằng 100,3% kế hoạch 6 tháng đầu năm.
Cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện. Thu hút đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt kết quả tích cực, với 51 dự án cấp mới và 08 dự án điều chỉnh tăng vốn, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 142.767 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt gần 1,08 tỷ USD, gấp 3,7 lần cùng kỳ. Thành lập mới 2.480 doanh nghiệp, tăng 31,6% so với cùng kỳ. Khoa học, công nghệ, chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh; hạ tầng số có 5.970 trạm BTS, phủ sóng 4G đạt 99,6% dân số, phủ sóng 5G đạt 94% dân số. Cung cấp 2.193/2.193 thủ tục hành chính dịch vụ công trực tuyến, trong đó 1.689 thủ tục hành chính toàn trình; 100% TTHC không phụ thuộc vào địa giới hành chính; cắt giảm 40% thời gian giải quyết đối với 1.359 TTHC; cắt giảm 38% thời gian giải quyết đối với 727 TTHC liên quan đến doanh nghiệp.
Công tác quy hoạch, phát triển đô thị đạt nhiều kết quả tích cực; tỉnh đã hoàn thành, công bố các quy hoạch chiến lược; được công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, quản lý đất đai, tài nguyên và môi trường được chỉ đạo quyết liệt; 6 tháng đầu năm hoàn thành giải phóng mặt bằng 7.187/8.353 ha, đạt 86% kế hoạch. Các dự án tồn đọng, kéo dài tiếp tục được tháo gỡ, đã xử lý xong 47/68 dự án, còn 21 dự án phấn đấu giải quyết dứt điểm trong quý III năm 2026.
Công tác văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm. Công tác xây dựng chính quyền, tư pháp, thanh tra, phòng chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được tăng cường. Tỉnh triển khai đồng bộ 10 nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhiều nghị quyết đã đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ nét về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế biển, năng lượng, văn hóa, y tế, giáo dục. Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp vận hành ổn định, thông suốt. Quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Bên cạnh những kết quả đạt được, đồng chí cũng thẳng thắn chỉ ra vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục trong thời gian tới như: Tiến độ triển khai một số dự án trọng điểm, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, xử lý dự án tồn đọng còn chậm. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số chưa có chuyển biến rõ nét, tỷ lệ giải ngân đạt thấp. Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước. Tình hình tai nạn giao thông và cháy, nổ tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.
Để phấn đấu tăng trưởng GRDP cả năm trên 13% và hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu cả năm 2026, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh 6 nhóm giải pháp: Tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp tại Nghị quyết số 05 của Tỉnh ủy, Nghị quyết số 318 ngày 05/02/2026, Nghị quyết số 334 của HĐND tỉnh và các chương trình, kế hoạch của UBND tỉnh về phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Triển khai hiệu quả đề án mô hình tăng trưởng mới; phát huy hiệu quả các quy hoạch chiến lược của tỉnh vừa công bố. Tăng cường huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý thu, chi ngân sách chặt chẽ, chống thất thu, lãng phí. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; xây dựng, chuẩn hóa và kết nối các cơ sở dữ liệu; phát triển kinh tế số, xã hội số. Thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, quan tâm giáo dục, y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; phát triển nhà ở xã hội cho thuê, đáp ứng nhu cầu của người lao động. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quy hoạch, đất đai, tài nguyên, môi trường; hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; xử lý dứt điểm các dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới quốc gia; tăng cường công tác đối ngoại, nhất là đối ngoại kinh tế.
08:47 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Vũ Quang Trực, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ninh: “Cử tri đồng thuận cao với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và chủ trương xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc trung ương”.
Trình bày tóm tắt kết quả công tác tham gia xây dựng chính quyền, phản ánh tình hình nhân dân và những vấn đề cử tri, nhân dân trong tỉnh quan tâm, kiến nghị gửi tới kỳ họp, đồng chí Vũ Quang Trực, Phó Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Quảng Ninh, nhấn mạnh, trong 6 tháng đầu năm, cấp ủy, chính quyền, MTTQ các cấp trong tỉnh đã chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân; đồng thời, triển khai đồng bộ, hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh.
Nổi bật như: MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã tổ chức 614 hội nghị tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho hơn 56.000 lượt người; đăng tải trên 34.000 tin, bài, hình ảnh trên các nền tảng truyền thông; tích cực nắm bắt tình hình nhân dân, tuyên truyền, vận động người dân đồng thuận trong thực hiện các dự án trọng điểm, đặc biệt là Dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh.
MTTQ các cấp cũng triển khai hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua; huy động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo vệ môi trường, tiêu dùng hàng Việt Nam. Công tác an sinh xã hội được quan tâm với hơn 286.000 suất quà được trao tặng, tổng trị giá trên 282 tỷ đồng.
Trong công tác tham gia xây dựng chính quyền, MTTQ đã phối hợp tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Toàn tỉnh có hơn 1,03 triệu cử tri đi bầu, đạt tỷ lệ 99,98%. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội tiếp tục được đẩy mạnh với 72 cuộc giám sát, phản biện 29 dự thảo văn bản; riêng MTTQ tỉnh thực hiện giám sát công tác bầu cử và việc triển khai các dự án chỉnh trang, nâng cao chất lượng đô thị.
Về nắm bắt tình hình nhân dân, dư luận xã hội cho thấy, nhân dân đánh giá cao việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời mong muốn tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã, sớm có chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách và bảo đảm kinh phí hoạt động cho thôn, khu phố sau sắp xếp.
Cử tri cũng bày tỏ sự đồng thuận, kỳ vọng đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số và chủ trương xây dựng thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương; đề nghị đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm, xử lý các dự án chậm tiến độ, tăng cường chỉnh trang đô thị, khắc phục tình trạng ngập úng, ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, nhân dân ghi nhận các chính sách an sinh mới của tỉnh như: Hỗ trợ ăn trưa, sữa học đường; cấp miễn phí sách giáo khoa từ năm học 2026-2027; khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho người dân; tăng cường y, bác sĩ tuyến tỉnh hỗ trợ tuyến xã. Đồng thời, nhân dân kiến nghị tỉnh tiếp tục quan tâm khắc phục tình trạng thiếu giáo viên; bảo đảm an toàn thực phẩm; tăng cường phòng chống tội phạm công nghệ cao; xử lý các điểm mất an toàn giao thông và các vấn đề ô nhiễm môi trường, ngập úng cục bộ…
09:00 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Nguyễn Minh Sơn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, trình bày tóm tắt tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết cho ý kiến về dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách cấp tỉnh, dự kiến tổng chi thường xuyên ngân sách cấp tỉnh giai đoạn 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.
Đồng chí nhấn mạnh căn cứ pháp lý, cơ sở đề xuất tờ trình. Trên cơ sở, tổng nhu cầu vốn ngân sách tỉnh thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2030 khoảng 9.885 tỷ đồng nhằm triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, xây dựng nông thôn Quảng Ninh phát triển toàn diện, hiện đại, bền vững; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo đảm giảm nghèo bền vững; phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền; giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Về tờ trình dự thảo Nghị quyết thông qua danh mục các công trình, dự án thu hồi đất; quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác đợt 3 năm 2026 trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường đề xuất Thông qua danh mục công trình, dự án thu hồi đất (đợt 3 năm 2026); thông qua điều chỉnh diện tích dự án, diện tích thu hồi đất của công trình, dự án đã được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 133/NQ-HĐND ngày 9/12/2022 (Theo Tờ trình số 2628/TTr-UBND ngày 22/6/2026, số 2816/TTr-UBNDngày 1/7/2026, số 2903/TTr-UBND ngày 5/7/2026 và số 2925/TTr-UBND ngày 6/7/2026). Danh mục 55 công trình, dự án thu hồi đất với tổng diện tích đất thu hồi là 3.059,79ha (chi tiết có biểu kèm theo); điều chỉnh diện tích dự án, diện tích thu hồi đất của 1 công trình, dự án đã được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 133/NQ-HĐND ngày 9/12/2022 (chi tiết có biểu kèm theo). Đồng thời, quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác đợt 3 năm 2026 (Theo Tờ trình số 2266/TTr-UBND ngày 1/6/2026; Tờ trình số 2651/TTr-UBND ngày 22/6/2026 và Tờ trình số 2738/TTr-UBND ngày 26/6/2026). Trong đó, thông qua danh mục đối với 14 dự án, công trình đề nghị quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, diện tích đề nghị quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng là 114,828ha, gồm: 0,30ha rừng tự nhiên; 14,528ha rừng trồng có chi tiết có biểu kèm theo).
Tờ trình về việc thông qua danh mục công trình, dự án thu hồi đất đợt 3 năm 2026 gồm 4 công trình, dự án với tổng diện tích đất thu hồi là 64,68ha (không có công trình, dự án thu hồi để đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất).
Riêng tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đợt 2 năm 2026, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường đã trình bày tại hội trường các căn cứ ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất do HĐND tỉnh quyết định. Theo tờ trình dự thảo nghị quyết, UBND tỉnh đã đề nghị HĐND tỉnh xem xét ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất của 7 khu đất; đồng thời, điều chỉnh diện tích khu đất thực hiện dự án khu đô thị sinh thái xã Hoàng Tân, TX Quảng Yên (nay là phường Hà An) đã được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 266/NQ-HĐND ngày 28/4/2025 để đảm bảo đồng bộ với quy hoạch phân khu.
Tóm tắt tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết quy định về trách nhiệm đóng góp kinh phí của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản để đầu tư, nâng cấp, duy tu, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, đồng chí Nguyễn Minh Sơn đã nêu rõ căn cứ Luật Địa chất và khoáng sản, việc ban hành nghị quyết là cần thiết, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành để đảm quyền lợi của địa phương. UBND tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai. Trên cơ sở đó, Sở đã xây dựng hồ sơ dự thảo nghị quyết theo đúng quy trình quy định. Theo tờ trình dự thảo nghị quyết, đối tượng áp dụng là các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thu, nộp, quản lý và sử dụng kinh phí đóng góp của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản. Mức kinh phí đóng góp được xác định trên một đơn vị sản phẩm khoáng sản nguyên khai và được xác định bằng 0,5% giá tính thuế tài nguyên tương ứng với từng nhóm, loại khoáng sản khai thác trên địa bàn tỉnh.
Đối với tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 100/2025/NQ-HĐND ngày 16/12/2025 của HĐND tỉnh quy định bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 1/1/2026, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, việc ban hành nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 100/2025/NQ-HĐND ngày 16/12/2025 của HĐND tỉnh quy định bảng giá đất lần đầu áp dụng từ ngày 1/1/2026 là cần thiết, phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn địa phương. Nếu không sửa đổi Nghị quyết số 100/2025/NQ-HĐND ngày 16/12/2025 của HĐND sẽ gây ách tắc, chậm trễ trong công tác giải phóng mặt bằng, thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai. Dự thảo nghị quyết được triển khai xây dựng đảm bảo đúng quy trình, trình tự thủ tục theo quy định. Trên cơ sở đó, dự thảo nghị quyết đã sửa đổi điểm a khoản 1 điều 5 về giá đất vườn, ao và đất nông nghiệp; sửa đổi, bổ sung phụ lục số 1 về bảng giá đất phi nông nghiệp tại nông thôn, phụ lục số 2 về bảng giá đất phi nông nghiệp tại đô thị ban hành kèm theo Nghị quyết số 100/2025/NQ-HĐND ngày 16/12/2025 của HĐND tỉnh.
09:15 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Đỗ Xuân Điệp, Giám đốc Sở Xây dựng: "Phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành khoảng 48,65 triệu m² sàn nhà ở (tương đương 349.666 căn nhà); không còn nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ".
Trình bày Tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết thông qua điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, đồng chí Đỗ Xuân Điệp, Giám đốc Sở Xây dựng nhấn mạnh: Tỉnh đặt mục tiêu hoàn thành khoảng 48,65 triệu m² sàn nhà ở, tương đương 349.666 căn nhà. Đồng thời, phấn đấu 100% nhà ở là nhà kiên cố, bán kiên cố, không còn nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ.
Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu hoàn thành khoảng 39 triệu m² sàn trong các dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại; phát triển 40.217 căn nhà ở xã hội, tương đương khoảng 2,6 triệu m² sàn. Trong đó, riêng nhà ở cho lực lượng vũ trang phấn đấu đạt tối thiểu 3.217 căn, tương đương khoảng 225.190m² sàn. Đồng thời, hình thành quỹ nhà ở cho thuê tại các đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển và logistics; đáp ứng 100% nhu cầu phát sinh về nhà ở công vụ, nhà ở tái định cư khi đủ điều kiện triển khai; khuyến khích hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư xây dựng, cải tạo nhà ở với dự kiến tăng thêm khoảng 7 triệu m² sàn trong giai đoạn 2021-2030.
Để thực hiện các mục tiêu trên, tỉnh định hướng phát triển nhà ở gắn với mô hình chuỗi đô thị đa cực, đa trung tâm, đa tầng, đa lớp; phát triển tích hợp biển, đảo, biên giới và di sản, trên cơ sở 3 hành lang phát triển, 4 phân vùng kinh tế - xã hội và 5 trung tâm động lực. Đồng thời, ưu tiên bố trí quỹ đất và nguồn lực phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, nhà ở cho người thu nhập thấp, chuyên gia và lao động kỹ thuật cao tại các khu vực đô thị hóa nhanh, khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển, cảng biển, logistics và các địa bàn có nhu cầu cư trú tập trung.
Tỉnh cũng sẽ đẩy nhanh rà soát, điều chỉnh và công khai quy hoạch; rà soát quỹ đất, nhất là quỹ đất 20% trong các dự án nhà ở thương mại, quỹ đất công và quỹ đất chuyển đổi công năng; kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai hoặc sử dụng đất không hiệu quả để ưu tiên phát triển nhà ở xã hội và nhà ở công nhân. Cùng với đó là đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hoàn thiện cơ chế khuyến khích xã hội hóa đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường quản lý thị trường bất động sản, công khai thông tin quy hoạch và dự án; gắn phát triển nhà ở với bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, ổn định dân cư vùng biên giới, miền núi, hải đảo và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
09:18 ngày 08/07/2026
* Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ Nguyễn Mạnh Cường: Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Đối với dự thảo Nghị quyết quy định một số nội dung, mức chi quản lý hoạt động và thực hiện các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ cho biết, việc xây dựng nghị quyết nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời bảo đảm thống nhất với Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cùng các quy định mới của Bộ Khoa học và Công nghệ về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước trong lĩnh vực này.
Hiện tỉnh đang thực hiện Nghị quyết số 39/2024/NQ-HĐND. Tuy nhiên, từ năm 2026, các quy định mới của Bộ Khoa học và Công nghệ có hiệu lực thay thế các quy định hiện hành. Do đó, việc ban hành nghị quyết mới là cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý triển khai các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong giai đoạn mới, góp phần phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.
Dự thảo nghị quyết gồm 4 chương, 12 điều, quy định các nội dung và mức chi quản lý, thực hiện các chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Quảng Ninh. Theo đó, dự thảo quy định mức chi đối với các hoạt động quản lý như xác định, tuyển chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ; kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện; thuê chuyên gia tư vấn; tổ chức hội đồng khoa học... Mức chi được đề xuất bằng 100% mức tối đa theo quy định tại Thông tư số 38/2025/TT-BKHCN.
Đối với kinh phí thực hiện nhiệm vụ, dự thảo quy định các khoản chi cho thù lao chuyên gia, các chức danh thực hiện nhiệm vụ; mua nguyên vật liệu, thiết bị; tổ chức hội thảo khoa học; đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và các hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ. Đồng thời, bổ sung cơ chế hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực khoa học, công nghệ của tỉnh. Riêng đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, mức chi tối đa được đề xuất bằng 70% mức chi của nhiệm vụ cấp tỉnh.
Theo UBND tỉnh, việc áp dụng mức chi bằng 100% khung tối đa theo quy định của Trung ương sẽ tạo điều kiện thu hút đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức khoa học, công nghệ có trình độ cao tham gia thực hiện nhiệm vụ của tỉnh, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đối với tờ trình HĐND tỉnh xem xét ban hành Nghị quyết quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục, nội dung và mức hỗ trợ đối với sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ công nghệ số; hỗ trợ dự án khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh. Theo tờ trình, việc xây dựng nghị quyết nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, tạo cơ sở pháp lý để triển khai các chính sách hỗ trợ đầu tư đối với sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm và các dự án khởi nghiệp sáng tạo. Đồng thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh Quảng Ninh đang duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, từng bước hình thành các khu công nghệ số tập trung, song vẫn cần có các cơ chế hỗ trợ trực tiếp về tài chính và hạ tầng nhằm thu hút doanh nghiệp công nghệ số quy mô lớn, thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ cũng trình bày tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn trên địa bàn tỉnh, nhằm tạo cơ chế thu hút đầu tư, thúc đẩy hình thành hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn và nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ cao. Việc xây dựng nghị quyết nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời triển khai Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025, tạo cơ sở pháp lý để tỉnh ban hành các chính sách hỗ trợ từ ngân sách địa phương đối với lĩnh vực công nghiệp công nghệ số.
Dự thảo hướng tới xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp thiết kế chip bán dẫn, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng bán dẫn và sản xuất thiết bị điện tử; thúc đẩy hình thành hệ sinh thái công nghiệp bán dẫn tại Khu công nghệ số tập trung Tuần Châu và các khu vực công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.
09:24 ngày 08/07/2026
* Giám đốc Sở Tài chính Phạm Hồng Biên trình bày tóm tắt Tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết quy định mức chi hoạt động của đảng ủy xã, phường, đặc khu và đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng.
Theo đó, đối tượng áp dụng là Đảng ủy xã, phường, đặc khu và Đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng.
Về nội dung chi, quy định mức chi hoạt động của đảng ủy xã, phường, đặc khu và đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng, gồm các nội dung chi: Chi xây dựng và thẩm định văn bản trình Đảng ủy, Ban Thường vụ đảng ủy; Chi xây dựng một số văn bản khác trình Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy; Chi phục vụ hoạt động của các đoàn kiểm tra, giám sát (ngoài kế hoạch kiểm tra, giám sát hằng năm); các đoàn kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; giải quyết tố cáo; giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng được thành lập theo quyết định của Đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy; Chi trang phục.
Mức chi các nội dung trên bằng 50% mức chi của thành ủy, tỉnh ủy đảm bảo theo đúng mức chi tại Quy định số 113-QĐ/VPTW ngày 25/3/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng. Kinh phí chi hoạt động của Đảng ủy xã, phường, đặc khu và Đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh do ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.
Đối với Tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết quy định mức chi đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Quảng Ninh, Giám đốc Sở Tài chính nêu rõ: Đối tượng áp dụng là công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, MTTQ, tổ chức chính trị - xã hội ở cấp tỉnh, cấp xã; viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Về mức chi tiền công giảng viên, báo cáo viên, trợ giảng trong nước dao động từ 1.000.000 đến 4.000.000 đồng/người/buổi theo 6 nhóm đối tượng. Trường hợp giảng viên, báo cáo viên thuộc từ hai nhóm đối tượng trở lên thì được áp dụng mức chi tiền công cao nhất. Đối với trợ giảng (nếu có), mức chi bằng 50% mức chi tiền công đối với giảng viên, báo cáo viên tương ứng. Đối với mức chi khen thưởng cho học viên đạt loại giỏi, loại xuất sắc là 400.000 đồng/học viên.
Kinh phí thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành và các nguồn kinh phí khác theo quy định.
09:30 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Nguyễn Thị Huệ, Giám đốc Sở Tư pháp: “Đảm bảo nguồn lực để nâng cao công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp tại địa phương”.
Trình bày tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết quy định một số loại phí, lệ phí trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh Quảng Ninh, Giám đốc Sở Tư pháp cho biết, việc ban hành Nghị quyết nhằm thay thế các quy định hiện hành đã được sửa đổi nhiều lần, bảo đảm đồng bộ với quy định pháp luật mới và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Cụ thể: Ngày 7/7/2017, HĐND tỉnh thông qua Nghị quyết số 62/2017/NQ-HĐND về việc quy định thu phí, lệ phí thuộc thẩm quyền HĐND tỉnh theo Luật phí và lệ phí. Tại Nghị quyết này, lĩnh vực tư pháp có 3 loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quy định của HĐND tỉnh, gồm phí cung cấp thông tin về giao dịch (biện pháp) bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, phí đăng ký giao dịch (biện pháp) bảo đảm và lệ phí hộ tịch.
Qua đánh giá thực tiễn, mức thu các loại phí, lệ phí hiện nay cơ bản ổn định, phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, không phát sinh kiến nghị từ người dân, doanh nghiệp. Trên cơ sở đánh giá kết quả thu phí đăng ký biện pháp bảo đảm; phí cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và lệ phí hộ tịch; đồng thời qua tham khảo mức thu phí, lệ phí của một số tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng với tỉnh Quảng Ninh cho thấy mức thu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cơ bản tương đồng với các địa phương, đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của công dân.
Tuy nhiên, từ khi ban hành Nghị quyết số 62/2017/NQ-HĐND đến nay, HĐND tỉnh đã ban hành nhiều Nghị quyết sửa đổi, bổ sung các khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh để quy định đối với 25 khoản phí, lệ phí thuộc các ngành, lĩnh vực. Trong 25 khoản phí và lệ phí có 16/25 khoản phí, lệ phí đã được sửa đổi, bổ sung tại các Nghị quyết của HĐND tỉnh. Đồng thời, sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các sở, ngành tiếp tục đề xuất sửa đổi các khoản phí, lệ phí. Do đó, việc xây dựng Nghị quyết mới, riêng biệt theo từng ngành, lĩnh vực quản lý sẽ thuận tiện cho việc tra cứu, điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung khi có sự thay đổi.
Từ cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn trên, việc ban hành Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí đăng ký biện pháp bảo đảm; phí cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và lệ phí hộ tịch là cần thiết để phù hợp với quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn của tỉnh. Qua đó, đảm bảo nguồn lực để nâng cao công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp tại địa phương.
Dự thảo Nghị quyết quy định cụ thể phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng các khoản phí, lệ phí; đồng thời quy định các trường hợp được miễn lệ phí hộ tịch, trách nhiệm của cơ quan thu và đơn vị tổ chức thực hiện. Nội dung được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Nghị quyết số 62/2017/NQ-HĐND, bảo đảm thống nhất với các quy định pháp luật hiện hành. Riêng đối với phí đăng ký biện pháp bảo đảm, dự thảo tiếp tục đề xuất tỷ lệ để lại 85% số phí thu được cho đơn vị thu nhằm bảo đảm kinh phí phục vụ hoạt động cung cấp dịch vụ và tổ chức thu phí theo quy định.
Bên cạnh đó, Dự thảo Nghị quyết cũng quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cơ quan, đơn vị liên quan.
09:39 ngày 08/07/2026
* Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đinh Ngọc Sơn: Tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển giáo dục chất lượng cao và trọng dụng nhân tài
Trình bày tóm tắt tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định chế độ thưởng đối với học sinh đoạt giải và giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh đoạt giải tại một số kỳ thi, cuộc thi; chính sách hỗ trợ công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của tỉnh Quảng Ninh và một số chính sách ưu đãi đối với Trường THPT Chuyên Hạ Long giai đoạn từ năm học 2026 - 2027 đến năm học 2030 - 2031, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đinh Ngọc Sơn cho biết, việc ban hành nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 63/2021/NQ-HĐND là cần thiết nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài; đồng thời cụ thể hóa các định hướng của Trung ương và của tỉnh về phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.
Sau 5 năm triển khai, Nghị quyết số 63/2021/NQ-HĐND đã phát huy hiệu quả rõ nét, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn của tỉnh. Từ vị trí thứ 22 toàn quốc trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2020 - 2021, Quảng Ninh đã vươn lên nhóm 8 - 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về tỷ lệ và số lượng học sinh đoạt giải trong năm học 2025 - 2026. Trên cơ sở kế thừa những chính sách đã được thực tiễn chứng minh hiệu quả, dự thảo nghị quyết tiếp tục điều chỉnh, bổ sung một số nội dung phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục và điều kiện thực tế của tỉnh, tạo động lực cho học sinh, giáo viên, nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi và phát huy vai trò của Trường THPT Chuyên Hạ Long.
Dự thảo nghị quyết được xây dựng đúng trình tự, thủ tục theo quy định, đã được cấp có thẩm quyền cho chủ trương và được Thường trực HĐND tỉnh thống nhất đưa vào chương trình kỳ họp thường lệ giữa năm 2026. Dự thảo quy định 3 nhóm chính sách. Thứ nhất, chế độ thưởng đối với học sinh đoạt giải và giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh đoạt giải tại các kỳ thi, cuộc thi từ cấp tỉnh đến khu vực và quốc tế. Theo đó, mức thưởng đối với học sinh đoạt giải cấp tỉnh từ 1-3,5 triệu đồng; cấp quốc gia từ 20-70 triệu đồng; cấp khu vực từ 100-500 triệu đồng; cấp quốc tế từ 200-700 triệu đồng. Học sinh là người dân tộc thiểu số thường trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hoặc xã đảo của tỉnh được hưởng mức thưởng bằng 1,5 lần mức quy định; giáo viên trực tiếp bồi dưỡng học sinh đoạt giải được thưởng bằng 50% mức thưởng của học sinh.
Thứ hai, chính sách hỗ trợ công tác bồi dưỡng các đội tuyển học sinh giỏi của tỉnh tham dự kỳ thi học sinh giỏi quốc gia và tuyển chọn đội tuyển quốc gia dự thi Olympic khu vực, quốc tế. Dự thảo quy định mức hỗ trợ đối với giáo viên thỉnh giảng, giáo viên tham gia tập huấn, tiền ăn, tiền giải khát, chi phí đi lại và các khoản chi phục vụ công tác bồi dưỡng theo quy định.
Thứ ba, một số chính sách ưu đãi dành cho Trường THPT Chuyên Hạ Long nhằm nâng cao chất lượng đào tạo học sinh năng khiếu. Cụ thể, học sinh đạt kết quả xuất sắc trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 được thưởng 10 triệu đồng; học sinh được hưởng học bổng khuyến khích học tập với 6 mức từ 3 đến 20 lần mức học phí hằng tháng; học sinh ở xa trường được hỗ trợ tiền ăn 936.000 đồng/tháng; đồng thời, nhà trường được bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đặc thù bằng 30% kinh phí chi hoạt động trong dự toán chi thường xuyên hằng năm.
Các chính sách tại dự thảo nghị quyết dự kiến được áp dụng từ năm học 2026 - 2027 đến hết năm học 2030 - 2031.
09:45 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Lê Ngọc Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch: “Đề xuất nhiều chính sách đặc thù phát triển thể thao Quảng Ninh”
Đồng chí Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình bày rõ sự cần thiết về việc ban hành Nghị quyết Quy định nội dung chi, mức chi tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh và một số chế độ, chính sách đặc thù đối với huấn luyện viên, vận động viên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Việc ban hành nghị quyết nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị, Luật Thể dục, thể thao, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 349/2025/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 117/2025/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Thời gian qua, các Nghị quyết số 60/2012/NQ-HĐND, 312/2020/NQ-HĐND (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) và 33/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh đã phát huy hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý cho công tác tổ chức các giải thể thao, đào tạo, huấn luyện và thực hiện chế độ, chính sách đối với huấn luyện viên, vận động viên. Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, một số quy định, mức chi không còn phù hợp với thực tiễn; trong khi Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành các quy định mới cần được cập nhật, cụ thể hóa để bảo đảm thống nhất trong quá trình triển khai. Vì vậy, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh ban hành nghị quyết thay thế các nghị quyết hiện hành nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, huấn luyện, thu hút và giữ chân đội ngũ huấn luyện viên, vận động viên, góp phần nâng cao thành tích và vị thế của thể thao Quảng Ninh trong giai đoạn mới.
Trong đó, quy định nội dung và mức chi tổ chức các giải thể thao cấp tỉnh đối với các lực lượng tham gia tổ chức, điều hành, phục vụ giải đấu; mức chi được xác định thấp hơn từ 20% đến 30% so với mức tối đa quy định tại Thông tư số 117/2025/TT-BTC. Đối với các giải thể thao cấp tỉnh, dự thảo quy định mức thưởng cho đoàn thể thao, đội tuyển và vận động viên đạt thành tích từ 600 nghìn đồng đến 30 triệu đồng. Đối với huấn luyện viên, vận động viên đội tuyển tỉnh, đội tuyển trẻ, đội tuyển năng khiếu đạt thành tích tại các giải thể thao quốc gia, mức thưởng từ 2 triệu đồng đến 50 triệu đồng, tùy theo thành tích.
Dự thảo cũng quy định huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích tại các đại hội, giải thi đấu thể thao quốc tế và thể thao người khuyết tật quốc tế được thưởng thêm bằng 100% mức thưởng quy định tại các Điều 17, 18 và 19 Nghị định số 349/2025/NĐ-CP. Đồng thời, dự thảo bổ sung chế độ đãi ngộ đặc thù đối với vận động viên Quảng Ninh đạt thành tích xuất sắc tại Olympic trẻ, ASIAD, SEA Games, Đại hội Thể thao toàn quốc, giải vô địch thế giới và giải vô địch châu Á với mức hỗ trợ từ 10 triệu đồng đến 25 triệu đồng/người/tháng. Huấn luyện viên, vận động viên là thành viên đội tuyển thể thao quốc gia được hỗ trợ 8 triệu đồng/người/tháng; thành viên đội tuyển trẻ quốc gia và đội tuyển thể thao người khuyết tật quốc gia được hỗ trợ 6 triệu đồng/người/tháng. Theo tờ trình, nguồn kinh phí thực hiện nghị quyết từ ngân sách nhà nước theo phân cấp hiện hành, với tổng kinh phí dự kiến khoảng 38 tỷ đồng mỗi năm.
09:50 ngày 08/07/2026
Đại tá Lê Trọng Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh: "Chính sách sẽ tạo điều kiện để công dân sau khi hoàn thành nghĩa vụ sớm hòa nhập thị trường lao động, ổn định cuộc sống và tiếp tục đóng góp cho sự phát triển của tỉnh"
Trình bày tờ trình dự thảo Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ công dân hoàn thành nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân trên địa bàn tỉnh, Đại tá Lê Trọng Hòa, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, nêu rõ: Theo tờ trình, những năm qua, công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân trên địa bàn tỉnh luôn được triển khai nghiêm túc, hoàn thành 100% chỉ tiêu được giao, góp phần củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh và giữ vững trật tự, an toàn xã hội. Giai đoạn 2020-2025, toàn tỉnh có khoảng 11.190 công dân hoàn thành nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân trở về địa phương. Đây là lực lượng lao động trẻ, có sức khỏe, ý thức tổ chức kỷ luật, được rèn luyện trong môi trường Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, là nguồn nhân lực có chất lượng để bổ sung cho thị trường lao động và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tuy nhiên, phần lớn số công dân xuất ngũ có trình độ học vấn chủ yếu ở bậc trung học, chiếm hơn 87%, trong khi tỷ lệ có bằng cấp, chứng chỉ nghề chỉ đạt khoảng 7,6%. Khả năng tiếp cận thông tin thị trường lao động, cơ hội học nghề và việc làm còn hạn chế. Mặc dù đã được hưởng các chính sách hỗ trợ theo quy định của Trung ương, song mức hỗ trợ hiện hành chưa đủ tạo động lực để người hoàn thành nghĩa vụ ổn định cuộc sống, phát triển nghề nghiệp. Quảng Ninh cũng chưa có chính sách đặc thù nhằm phát huy hiệu quả nguồn nhân lực này phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Dự thảo nghị quyết quy định đối tượng áp dụng là công dân hoàn thành nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân hằng năm, có hộ khẩu thường trú tại Quảng Ninh trước khi nhập ngũ và trở về địa phương sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Theo dự thảo, công dân thuộc các nhóm là người dân tộc thiểu số; con của người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo sẽ được hỗ trợ một lần 12 triệu đồng/người. Các trường hợp còn lại được hỗ trợ 10 triệu đồng/người. Bên cạnh đó, dự thảo cũng đề xuất chính sách khuyến khích đối với những công dân có thành tích nổi bật trong thời gian thực hiện nghĩa vụ. Cụ thể, hỗ trợ thêm 2 triệu đồng/người đối với cá nhân được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tại ngũ hoặc được khen thưởng vì có thành tích xuất sắc từ cấp sư đoàn, trung đoàn và tương đương trở lên đối với quân đội, hoặc từ cấp Công an tỉnh và tương đương trở lên đối với lực lượng Công an nhân dân.
Việc ban hành nghị quyết không chỉ góp phần động viên thanh niên yên tâm thực hiện nghĩa vụ với Tổ quốc mà còn tạo điều kiện để công dân sau khi hoàn thành nghĩa vụ nhanh chóng hòa nhập thị trường lao động, nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống và tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của tỉnh.
09:54 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Hồ Quang Huy, Giám đốc Sở Công Thương: "Thống nhất việc mua sắm, quản lý và cấp phát phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu và trang phục cho lực lượng quản lý thị trường"
Trình bày tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết quy định chế độ mua sắm, thủ tục cấp phát phù hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, biển hiệu và trang phục đối với công chức làm việc tại Chi cục Quản lý thị trường tỉnh, đồng chí Hồ Quang Huy, Giám đốc Sở Công Thương nêu rõ cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn cũng như quy trình xây dựng Nghị quyết.
Theo đó, việc ban hành Nghị quyết nhằm cụ thể hóa quy định của Chính phủ sau khi mô hình quản lý thị trường được chuyển từ cơ quan trung ương về địa phương quản lý. Đây là cơ sở pháp lý để tỉnh thực hiện thống nhất việc mua sắm, quản lý và cấp phát phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu và trang phục cho lực lượng quản lý thị trường.
Dự thảo Nghị quyết quy định nguồn kinh phí mua sắm được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm hoặc từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Hằng năm, Chi cục Quản lý thị trường sẽ căn cứ dự toán được giao để tổ chức mua sắm theo quy định của pháp luật về đấu thầu, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, đối tượng và niên hạn sử dụng.
Nghị quyết cũng quy định cụ thể nguyên tắc, trình tự, thủ tục cấp phát lần đầu, cấp thay thế và cấp hằng năm đối với phù hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, biển hiệu và trang phục; đồng thời quy định việc quản lý, theo dõi quá trình cấp phát.
Theo Dự thảo, sau khi Nghị quyết có hiệu lực, các loại phù hiệu, cấp hiệu, biển hiệu và trang phục đã được cấp trước đó sẽ tiếp tục được sử dụng đến hết niên hạn theo quy định.
09:58 ngày 08/07/2026
* Giám đốc Sở Nội vụ Vũ Thị Mai Anh trình bày tóm tắt Tờ trình đề nghị ban hành Nghị quyết quy định về một số nội dung và mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Theo đó, đối tượng áp dụng bao gồm Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp; các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc quản lý, sử dụng quỹ thi đua, khen thưởng để tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh được quy định tại điểm đ, e và điểm g khoản 3 Điều 2 Thông tư số 143/2025/TT-BTC.
Đối với mức chi cho Hội đồng Thi đua - Khen thưởng cấp tỉnh sẽ bằng mức chi tối đa theo Thông tư số 143/2025/TT-BTC. Đối với Hội đồng Thi đua-Khen thưởng cấp sở, ban, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác thuộc phạm vi quản lý của tỉnh, bằng 80% mức chi cấp tỉnh. Nguồn kinh phí thực hiện từ nguồn quỹ thi đua, khen thưởng theo quy định tại Nghị định số 152/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
10:15 ngày 08/07/2026
* Trưởng Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh Vũ Ngọc Hà trình bày các báo cáo thẩm tra
Đối với báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và dự thảo nghị quyết về bổ sung các chỉ tiêu tăng trưởng giai đoạn 2026-2030, năm 2026, các Ban HĐND tỉnh thống nhất với đánh giá của UBND tỉnh. Theo đó, 6 tháng đầu năm, GRDP của tỉnh ước tăng 11,11%, đứng thứ 4 cả nước; thu ngân sách đạt 48.556 tỷ đồng, đứng thứ 7 toàn quốc.
Bên cạnh kết quả đạt được, các Ban HĐND tỉnh đề nghị UBND tỉnh tiếp tục quan tâm xử lý tình trạng nợ thuế doanh nghiệp còn cao; đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và thu hồi tạm ứng xây dựng cơ bản; khẩn trương xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính; xử lý dứt điểm các dự án chậm triển khai, vi phạm pháp luật về đất đai; khắc phục tình trạng thiếu nhân lực ở một số lĩnh vực chuyên môn; đẩy nhanh tiến độ cải tạo trường học, triển khai Đề án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai, chương trình chăm sóc sức khỏe nhân dân và thực hiện bộ quy tắc ứng xử.
Để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng trên 13% trong năm 2026, các Ban đề nghị UBND tỉnh tiếp tục chuẩn bị các điều kiện thành lập thành phố Quảng Ninh; nghiên cứu cơ chế, chính sách đặc thù sau khi thành lập; tăng cường thu hồi nợ thuế; xây dựng kế hoạch tài chính 5 năm, kế hoạch đầu tư công trung hạn; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng y tế cơ sở, giáo dục; phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đấu tranh với các loại tội phạm.
Đối với dự thảo nghị quyết về kế hoạch đầu tư công trung hạn và dự kiến tổng chi thường xuyên thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, Ban Kinh tế - Ngân sách đề nghị UBND tỉnh làm rõ căn cứ xác định nhu cầu vốn toàn giai đoạn. Sau khi UBND tỉnh giải trình, bổ sung, Ban thống nhất trình HĐND tỉnh thông qua. Trong đó, đã làm rõ nhu cầu vốn theo từng tiêu chí, phân định nhiệm vụ chi, tránh chồng chéo giữa các chương trình, đồng thời chưa bố trí kinh phí đối với những cơ chế, chính sách chưa được ban hành.
Đối với dự thảo nghị quyết điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, Ban Kinh tế - Ngân sách đề nghị tiếp tục rà soát, bổ sung căn cứ điều chỉnh chương trình; đánh giá kết quả thực hiện giai đoạn trước; hoàn thiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhu cầu quỹ đất, nguồn vốn và phương án phát triển các loại hình nhà ở. Sau khi UBND tỉnh tiếp thu, giải trình, Ban thống nhất trình HĐND tỉnh xem xét thông qua.
Đối với dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung bảng giá đất áp dụng từ ngày 1/1/2026, Ban Kinh tế - Ngân sách đề nghị UBND tỉnh làm rõ kết quả thực hiện bảng giá đất, căn cứ sửa đổi, phương pháp xác định giá và các vị trí điều chỉnh. Sau khi tiếp thu, UBND tỉnh đã bổ sung 51 vị trí giá đất, sửa đổi thông tin 90 vị trí, hủy bỏ 8 vị trí; chưa trình điều chỉnh một số vị trí tại đặc khu Cô Tô; đồng thời bổ sung nguyên tắc áp dụng bảng giá đất khi thay đổi địa giới hành chính. Ban cũng đề nghị UBND tỉnh thường xuyên rà soát, cập nhật bảng giá đất và nghiên cứu ban hành quy định về hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định mới của Chính phủ.
Đối với dự thảo nghị quyết về danh mục các dự án, công trình thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác (đợt 3 năm 2026), Ban Kinh tế - Ngân sách đề nghị UBND tỉnh tiếp tục rà soát tính pháp lý, hiệu quả đầu tư và quy hoạch của các dự án. Tiếp thu ý kiến thẩm tra, UBND tỉnh đã rút 3 dự án để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ; bổ sung quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với 4 dự án; làm rõ các nội dung liên quan đến quy hoạch tại đặc khu Vân Đồn, hạ tầng giao thông kết nối và việc chuyển mục đích sử dụng rừng. Trên cơ sở đó, Ban thống nhất trình HĐND tỉnh xem xét thông qua danh mục 56 dự án, công trình thu hồi đất; điều chỉnh diện tích thu hồi đất đối với 1 dự án và chủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng đối với 14 dự án.
Thẩm tra Dự thảo Nghị quyết ban hành danh mục các khu đất thực hiện đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (đợt 2) năm 2026, Ban Kinh tế - Ngân sách cho biết: Trên cơ sở kết quả khảo sát thực tế và hồ sơ tài liệu kèm theo; Ban Kinh tế - Ngân sách đã đề nghị UBND tỉnh và các cơ quan chuyên môn có liên quan làm rõ sự cần thiết, nhu cầu sử dụng đất, hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động môi trường đối với các khu đất thực hiện dự án, nhất là các dự án điện gió.
Tiếp thu ý kiến của Ban Kinh tế - Ngân sách, UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và Môi trường đã báo cáo giải trình, làm rõ các nội dung liên quan đến sự cần thiết, hiệu quả của các dự án; đồng thời bổ sung, giải trình cụ thể. Trên cơ sở nghiên cứu các nội dung báo cáo giải trình, làm rõ của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Kinh tế - Ngân sách cơ bản đồng tình và thống nhất trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua đối với danh mục 07 khu đất đấu thầu và điều chỉnh quy mô diện tích đối với 01 khu đất đấu thầu thực hiện dự án đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua.
Thẩm tra Dự thảo Nghị quyết quy định về trách nhiệm đóng góp kinh phí của tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản để đầu tư, nâng cấp, duy tu, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, Ban Kinh tế - Ngân sách cơ bản đồng tình về phạm vi, đối tượng áp dụng, sự phù hợp của nội dung dự thảo Nghị quyết với chủ trương, đường lối của Đảng, tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, để nội dung Nghị quyết sau khi ban hành bảo đảm tính khả thi, chặt chẽ và đúng quy định của pháp luật, Ban Kinh tế - Ngân sách đề nghị UBND tỉnh báo cáo, giải trình làm rõ đối với căn cứ trình HĐND tỉnh quy định thu đóng góp của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản phù hợp với chủ trương cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của Trung ương và của tỉnh; căn cứ xác định cơ quan quản lý thu và quy trình quản lý, sử dụng nguồn đóng góp này.
Ngày 3/7/2026, UBND tỉnh đã có Báo cáo số 295/BC-UBND tiếp thu, giải trình cụ thể. Đồng thời, đã tiếp thu và điều chỉnh tên gọi Nghị quyết đảm bảo phù hợp tên gọi danh mục Nghị quyết đã đăng ký và được Thường trực HĐND tỉnh chấp thuận tại Quyết định số 215/QĐ-HĐND ngày 09/10/2025 và bảo đảm thẩm quyền của HĐND tỉnh quy định tại Luật Địa chất và khoáng sản. Trên cơ sở kết quả tiếp thu, giải trình và hoàn thiện của UBND tỉnh, Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua đối với dự thảo Nghị quyết.
Thẩm tra Dự thảo Nghị quyết quy định một số loại phí, lệ phí trong lĩnh vực Tư pháp, Ban Kinh tế - Ngân sách cơ bản thống nhất với đối tượng, phạm vi, sự phù hợp của nội dung dự thảo Nghị quyết với chủ trương, đường lối của Đảng, tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh giải trình, làm rõ một số nội dung sau: Các đối tượng được miễn phí, lệ phí so với các quy định hiện hành; việc xây dựng Đề án thu phí, lệ phí theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 362/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025...
Tại phiên họp thẩm tra và Báo cáo số 290/BC-UBND ngày 03/7/2026, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo Nghị quyết. Theo đó, UBND tỉnh khẳng định: Các nội dung về phương thức cung cấp dịch vụ, thu phí; dự kiến mức thu, căn cứ xây dựng mức thu; đối tượng chịu phí; miễn, giảm phí; dự toán thu, chi; tỷ lệ để lại; đánh giá khả năng đóng góp của người nộp phí, hiệu quả thu phí đều được kế thừa nguyên trạng từ Nghị quyết số 62/2017/NQ-HĐND. Do không có sự thay đổi về nội dung Đề án nên việc không xây dựng lại Đề án tại thời điểm này là có cơ sở pháp lý, phù hợp với thực tiễn và không làm ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước.
Qua nghiên cứu văn bản giải trình, tiếp thu của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Kinh tế - Ngân sách cơ bản đồng tình với nội dung giải trình của Ủy ban nhân dân tỉnh, thống nhất trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua dự thảo Nghị quyết.
Thẩm tra Dự thảo Nghị quyết quy định mức chi hoạt động của đảng ủy xã, phường, đặc khu và đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng, Ban Kinh tế - Ngân sách cơ bản thống nhất với nội dung trình của UBND tỉnh; đồng thời đề nghị UBND tỉnh rà soát, giải trình và làm rõ một số nội dung về danh sách các tổ chức Đảng là “đảng ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng ở những nơi có đặc điểm riêng”; rà soát, không quy định lại đối với các nội dung đã được quy định tại Quy định số 113-QĐ/VPTW; đề nghị tiêu chí hóa để định lượng hoặc giải trình cụ thể cụm từ “văn bản có phạm vi nghiên cứu rộng, nội dung phức tạp…” nhằm tránh phát sinh vướng mắc hoặc nhiều cách hiểu khác nhau trong quá trình thực hiện.
Trên cơ sở ý kiến thẩm tra của Ban Kinh tế - Ngân sách, UBND tỉnh đã tiếp thu, giải trình và hoàn thiện dự thảo Nghị quyết với các nội dung chính về đối tượng áp dụng, nội dung chi, báo cáo cụ thể nhu cầu kinh phí phát sinh khi ban hành Nghị quyết, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết lược bỏ một số nội dung chi đã được quy định tại Quy định số 113-QĐ/VPTW, điều chỉnh căn cứ pháp lý trực tiếp ban hành Nghị quyết và chỉnh lý lại thể thức trình bày văn bản quy phạm pháp luật.
Trên cơ sở Báo cáo tiếp thu, giải trình của UBND tỉnh, Ban Kinh tế - Ngân sách thống nhất trình HĐND tỉnh thông qua đối với dự thảo Nghị quyết đã được UBND tỉnh tiếp thu, hoàn thiện.
10:40 ngày 08/07/2026
Đồng chí Vũ Thị Diệu Linh, Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, HĐND tỉnh: "Các nội dung đảm bảo theo quy trình và đúng thẩm quyền của HĐND tỉnh"
Đồng chí Vũ Thị Diệu Linh, Trưởng Ban Văn hóa - Xã hội, HĐND tỉnh trình bày tóm tắt báo cáo thẩm tra của Ban đối với nhiều nội dung quan trọng.
Đối với Dự thảo Nghị quyết quy định chế độ thưởng cho học sinh đoạt giải và giáo viên dạy học sinh đoạt giải tại một số kỳ thi, cuộc thi; chính sách hỗ trợ công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của tỉnh Quảng Ninh và một số chính sách ưu đãi đối với Trường THPT Chuyên Hạ Long từ năm học 2026-2027 đến năm học 2030-2031, Ban đề nghị cần làm rõ cơ sở đề xuất quy định mức thưởng đối với học sinh đoạt giải cấp tỉnh và chưa xem xét việc điều chỉnh mở rộng đối tượng như dự thảo. Đồng thời, đề nghị cần giải trình bổ sung làm rõ cơ sở đề xuất quy định các mức hỗ trợ kinh phí tập huấn đội tuyển học sinh giỏi; chi phí phục vụ học sinh nội trú tại trường; bổ sung đánh giá kết quả cụ thể việc triển khai tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đặc thù, chuyên biệt theo Nghị quyết số 63/2021/NQ-HĐND trong thời gian qua.
Đối với Dự thảo Nghị quyết quy định một số nội dung, mức chi quản lý hoạt động và thực hiện chương trình, nhiệm vụ, hoạt động hỗ trợ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Quảng Ninh, Ban đề nghị xem xét cần quy định cụ thể về đối tượng áp dụng thống nhất với phạm vi điều chỉnh của dự thảo. Đồng thời, đề nghị làm rõ cơ sở đề xuất đối với các mức chi quản lý hoạt động và thực hiện chương trình, nhiệm vụ, hoạt động hỗ trợ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Quảng Ninh.
Liên quan tới Dự thảo nghị quyết quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục, nội dung và mức hỗ trợ dự án khởi nghiệp sáng tạo trong công nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; Dự thảo Nghị quyết Quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục, một số nội dung và mức hỗ trợ dự án sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ công nghệ số, dự án sản xuất sản phẩm phụ trợ trực tiếp trong công nghiệp bán dẫn trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2026-2031, qua thảo luận, tập thể Ban cơ bản nhất trí với nội dung và mức hỗ trợ. Mức hỗ trợ được xây dựng trên cơ sở đánh giá, khảo sát, tham vấn, lấy ý kiến của các doanh nghiệp có liên quan trong và ngoài tỉnh; tham khảo, so sánh với mức hỗ trợ của một số tỉnh, thành phố đã ban hành Nghị quyết.
Về Dự thảo Nghị quyết quy định nội dung chi, mức chi tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh và một số chế độ, chính sách đặc thù đối với huấn luyện viên, vận động viên tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2026-2031, qua thảo luận, Ban đề nghị cần bổ sung làm rõ cơ sở đề nghị chi thưởng tại các đại hội, giải thi đấu cấp tỉnh, quốc gia. Đối với môn tập thể, đề nghị xem xét quy định mức thưởng đảm bảo thống nhất, đồng bộ với các nội dung giải thi đấu. Đồng thời, đề nghị rà soát các giải bổ sung mới, đánh giá hiệu quả thực tiễn các giải thi đấu thời gian vừa qua để có cơ sở đề xuất mức thưởng phù hợp; bổ sung quy định nguyên tắc thưởng.
Đối với chế độ đãi ngộ đặc thù đối với vận động viên đạt thành tích xuất sắc, Ban đề nghị bổ sung làm rõ cơ sở đề xuất đối tượng áp dụng ngoài quy định của Điều 7 Nghị định 349/2025/NĐ-CP. Đồng thời, đề nghị cơ sở đề xuất các môn trong các giải thi đấu; bổ sung đánh giá thực tiễn kết quả vận động viên tỉnh đạt thành tích xuất sắc tại các đại hội thể thao, giải thi đấu quốc tế, đại hội thể thao toàn quốc thời gian qua; làm rõ quy mô, tính chất các giải đấu theo hệ thống thi đấu chính thức của khu vực, quốc tế, số lượng các bộ môn cụ thể. Ban cũng đề nghị bổ sung một số quy định về nguyên tắc hưởng, trách nhiệm của đối tượng cần đảm bảo chặt chẽ, kiểm soát việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách; làm rõ cơ sở đề xuất chế độ thưởng và thêm 100% mức thưởng quy định cho đối tượng huấn luyện viên, vận động viên; sự cần thiết, cơ sở thực tiễn đề nghị mức hỗ trợ tham gia các đội tuyển.
Đối với Dự thảo Nghị quyết ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước của HĐND tỉnh, qua thảo luận, tập thể Ban Văn hóa - Xã hội nhận thấy việc xây dựng dự thảo Nghị quyết đảm bảo đúng trình tự, thủ tục đối với nghị quyết có nội dung quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nghị quyết ban hành Quy chế gồm có 4 chương, 23 điều, được xây dựng kết cấu, bố cục chặt chẽ, nội dung đảm bảo theo yêu cầu của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
10:50 ngày 08/07/2026
* Đồng chí Phạm Thị Hồng Hạnh, Trưởng Ban Pháp chế trình bày tóm tắt các báo cáo thẩm tra của Ban về các nội dung thuộc lĩnh vực pháp chế
Dự thảo Nghị quyết quy định chế độ mua sắm, thủ tục cấp phát phù hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, biển hiệu và trang phục đối với công chức làm việc tại Chi cục Quản lý thị trường thuộc Sở Công Thương tỉnh Quảng Ninh, Ban Pháp chế đề nghị cần quy định cụ thể về thủ tục cấp phát để đảm bảo các nội dung được Trung ương giao chính quyền địa phương quy định chi tiết theo quy định tại khoản 4 Điều 11 Nghị định số 33/2022/NĐ-CP; trong đó quy định rõ về nguyên tắc, thủ tục, quản lý, theo dõi, thời điểm và niên hạn cấp phát để đảm bảo tính minh bạch; đồng thời, chỉnh lý dự thảo nghị quyết theo hướng sắp xếp lại các điều, khoản để đảm bảo khoa học, dễ theo dõi và bổ sung quy định áp dụng văn bản mới khi văn bản dẫn chiếu bị thay đổi. UBND tỉnh đã có Báo cáo số 286/BC-UBND ngày 30/6/2026, tiếp thu các ý kiến thẩm tra và chỉnh lý dự thảo nghị quyết.
Đối với dự thảo Nghị quyết quy định về một số nội dung và mức chi tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Ban Pháp chế cơ bản thống nhất nội dung dự thảo, đồng thời đề nghị rà soát nội dung quy định về đối tượng áp dụng tại Điều 2, chỉ quy định đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đảm bảo theo đúng điểm đ, e và điểm g khoản 3 Điều 2 Thông tư số 143/2025/TT-BTC. UBND tỉnh đã có Báo cáo số 296/BC-UBND ngày 4/7/2026, tiếp thu các ý kiến thẩm tra và chỉnh lý lại dự thảo nghị quyết.
Đối với dự thảo Nghị quyết quy định mức chi đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức trong nước thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Quảng Ninh, Ban Pháp chế đề nghị rà soát các quy định có liên quan để quy định mức chi cho phù hợp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đúng thẩm quyền của HĐND tỉnh; kịp thời xử lý các quy định dẫn chiếu đến văn bản hết hiệu lực, bảo đảm thuận lợi trong quá trình tổ chức thực hiện. Rà soát việc phân nhóm đối tượng giảng viên, báo cáo viên để bảo đảm đồng bộ với các quy định hiện hành của Trung ương và của tỉnh về danh mục vị trí, chức danh, nhóm chức danh, chức vụ trong hệ thống chính trị; đồng thời, bổ sung nguyên tắc “Trường hợp giảng viên, báo cáo viên thuộc từ hai nhóm đối tượng trở lên thì được áp dụng mức chi tiền công cao nhất”. Nghiên cứu bổ sung: quy định về “Mức chi khen thưởng cho học viên đạt loại giỏi, loại xuất sắc”; quy định về điều khoản áp dụng của Nghị quyết nhằm bảo đảm các cơ quan, đơn vị tổ chức bồi dưỡng đối với đối tượng cán bộ; những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, khu phố được áp dụng các mức chi theo Nghị quyết này. UBND tỉnh đã có Báo cáo số 284/BC-UBND ngày 30/6/2026 tiếp thu ý kiến thẩm tra và đã chỉnh lý dự thảo Nghị quyết.
Dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định chính sách hỗ trợ quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia công an nhân dân hằng năm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Trên cơ sở ý kiến thẩm tra của Ban Pháp chế, UBND tỉnh đã có Báo cáo số 294/BC-UBND ngày 4/7/2026 tiếp thu các nội dung thẩm tra và kèm theo dự thảo Nghị quyết đã chỉnh lý. Riêng đối với khoản 3 Điều 3 của dự thảo nghị quyết về nội dung hỗ trợ thêm cho công dân khi có thành tích xuất sắc hoặc được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, cơ quan trình đang đề xuất cấp có thẩm quyền khen thưởng từ cấp “Sư đoàn và tương đương trở lên, khen từ cấp Công an tỉnh trở lên”. Ban Pháp chế đề nghị dự thảo nghị quyết bỏ cụm từ “tương đương” và ghi rõ cấp khen thưởng “từ cấp Sư đoàn trở lên (bao gồm khen thưởng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh,...”, cụ thể như sau: “3. Đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc được khen thưởng do có thành tích xuất sắc từ cấp Sư đoàn trở lên (bao gồm khen thưởng của Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh), khen thưởng từ cấp Công an tỉnh trở lên hoặc đáp ứng đồng thời các tiêu chí trên thì được hỗ trợ thêm 2.000.000 đồng/người (Bằng chữ: Hai triệu đồng/người)”.