Đoàn văn nghệ sĩ Quảng Ninh chúng tôi đã kết thúc một tuần công tác và tham quan đất nước Triệu Voi. Một tuần thật ngắn ngủi, nhưng với tôi, đó là khoảng thời gian đầy ấn tượng, với bao điều thu nhận, bao điều muốn nói và thầm kín chiêm nghiệm cho chính mình…
Chiếc máy bay VN Arilines trên sân bay Nội Bài - Hà Nội cất cánh, bay vào không trung, vượt lên tầng trời xanh thẳm. Thành phố, làng mạc, cánh đồng, sông núi nước Việt hút vào những đụn mây trắng xốp, nhường cho bức tranh trùng điệp non cao trải dưới cánh tàu bay. Bắt đầu thảm thực vật đất nước Lào xanh thẫm. Những cánh rừng lớn còn dày đặc sắc đại ngàn, không bị chia xẻ loang lổ. Hầu như tấm gấm non sông Triệu Voi còn nguyên vẹn, chỉ lác đác vài nốt vá…
10 giờ 47 phút, máy bay hạ cánh xuống sân bay Wattay Viêng Chăn. Nhiệt độ ngoài trời lúc này là 21 độ C. Sân bay Viêng Chăn nhỏ, không đông khách và tấp nập như sân bay Nội Bài. Xe ô tô du lịch đã đến đón. Một hướng dẫn viên trẻ người Lào tươi cười đứng lên chắp tay cúi chào bằng tiếng Việt khá thạo, nghe na ná tiếng Huế:
- Con chào các bác, các cô, các chú! Con tên Na 35 tuổi, sẽ là người cùng đoàn đi suốt cuộc hành trình ở Viêng Chăn… Giọng nói đĩnh đạc, tự tin, Na giới thiệu vài nét cơ bản về địa lý, lịch sử, văn hóa, lễ hội đất nước Lào và thủ đô Viêng Chăn: -Lào là một quốc gia hơn 6 triệu dân, duy nhất ở Đông Nam Á không có biển. Phía tây bắc giáp Myanma và Trung Quốc, phía đông giáp Việt Nam, phía nam giáp Campuchia và phía tây giáp Thái Lan… Lào được gọi là "đất nước Triệu Voi" hay Vạn Tượng. Trước đây còn có tên là Ai Lao. Ngôn ngữ phổ thông là tiếng Lào...
Lễ hội ở Lào được gọi là Bun. Nghĩa của Bun là phước (phúc). Làm Bun nghĩa là làm phước để được phước. Cũng như các nước trong khu vực Đông Nam Á, Lào là xứ sở của lễ hội, tháng nào trong năm cũng có lễ hội. Lễ hội cũng chia làm 2 phần: Phần Lễ và phần Hội. Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán, Tết Lào (Bun PiMay vào tháng 4) và tết H’mong (vào tháng 12). Ngoài ra còn các lễ hội: BunPhaVet (Phật hóa thân) vào tháng 1; Bun VisakhaPuya (Phật Đản) vào tháng 4; Bun BangPhay (pháo thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao Phansa (mùa chay) vào tháng 7; Bun Khaopadapdin (tưởng nhớ người đã mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (đua thuyền) vào tháng 10… Na nói về thủ đô của mình thật tự hào, say đắm: -Viêng Chăn, theo tiếng Việt của các cô bác xưa gọi là Vạn Tượng, là thủ đô nước Lào, nằm bên tả ngạn, đoạn khuỷu sông Mê Kông, chỗ này chính là biên giới giữa Lào và Thái Lan. Thủ đô Viêng Chăn rộng 3.920m2 và có gần 730.000 dân; trong đó khu vực nội thành có hơn 200.000 người. Tên thành phố bắt nguồn từ tiếng Pali, ngôn ngữ diễn đạt văn chương của Phật giáo Tiểu thừa. Nghĩa ban đầu là "Khu rừng đàn hương của nhà vua", loại cây quý vì mùi hương của nó theo kinh điển Ấn Độ. Nghĩa của Viêng Chăn là "Thành phố Trăng" trong tiếng Lào. Cách phát âm và phép chính tả hiện đại Lào không phản ánh rõ ràng từ nguyên tiếng Pali. Tuy nhiên, tên gọi trong tiếng Thái vẫn giữ được nguyên gốc và "Thành Đàn hương" là nghĩa gốc của tên gọi này. Cách phát âm theo các ngôn ngữ latinh (Vientiane) có nguồn gốc từ tiếng Pháp với một kiểu đánh vần dựa trên tiếng Anh là "Viangchan", hoặc đôi khi là "Wiangchan"...
Thời điểm này xứ sở hoa Chăm Pa vừa kết thúc mùa lễ hội trong năm bằng lễ hội Đua thuyền. Các lễ hội chỉ còn dư âm trong lòng người cùng những bước chân trên đường phố, lên nương trỉa lúa, xuống dòng Mê Kông bắt cá... Chúng tôi nhanh chóng làm quen với Na và nói chuyện rất sôi nổi, dí dỏm trong ô tô. Nhà Na ở ngoại thành Viêng Chăn. Yêu thích được đi đây đó trên đất nước mình, tốt nghiệp đại học, Na đi làm hướng dẫn viên du lịch. Cậu chưa vợ, đã từng hai, ba lần sang Việt Nam và rong ruổi trên Vịnh Hạ Long. "Khi nào lấy vợ, con sẽ đưa vợ thăm quê hương các cô các bác!..." - Nở nụ cười rất tươi, cậu bảo vậy.
Trên đường tới Khách sạn Ramayana nhận phòng nghỉ, xe qua một đại lộ lớn trải dài. Hai bên đường phố xanh mát bóng cây. Không thấy các loại biển quảng cáo tranh nhau lổn nhổn trương lên, phô ra mặt phố. Cái nắng không gay gắt như ta tưởng về gió Lào mùa khô ghê gớm. Nắng trong vắt không gian. Cảnh vật như đặt trong chiếc bình thủy tinh khổng lồ. Người ta còn gọi Lào là đất nước Mặt Trăng! Bởi không gian cứ trong suốt như thế này, chắc chắn Mặt Trăng bốn mùa cũng sáng tỏ đến vành vạnh!
Đường phố Viêng Chăn thật thanh bình. Chốc chốc lại thấy mấy nhà sư áo cà sa vàng đi bên những hàng trúc la đà trên hè phố. Đây đó gặp những khu vườn khuôn trong những hàng rào cây xén tỉa công phu. Những gốc cây Chăm Pa cổ thụ nghiêng cành bên các biệt thự xinh xắn. Mùa hoa Chăm Pa còn nở, ánh lên từng chùm sao cánh trắng nhị vàng, thoáng ngát mùi hương. Dưới hoa, thỉnh thoảng các thiếu nữ mặc váy thêu hoa văn ngũ sắc nhẹ gót dạo qua, cũng thật thanh thản như đi trong mộng.
Nhà dân và công sở các phố ở Viêng Chăn xây dựng đơn giản, không nhiều tầng, chủ yếu mái cong và dốc. Màu sắc tường sơn thường trắng non, vàng nhạt, vàng xanh nõn... không cầu kỳ, xô bồ, rối rắm hình dáng và đường nét. Và thú vị nhất chỗ nào cũng bóng cây xanh biếc. Na bảo: Ở nước Lào, nhà xây khống chế không cao quá 10 tầng!... Đường phố rất sạch, không bụi bặm, ồn ào, không tiếng còi xe. Giờ chiều, xe các loại, nườm nượp theo nhau giao cắt luồng đường một cách trật tự. Không thấy cảnh xe cộ tranh nhau, vượt đường. Thấy tôi đăm đăm nhìn các tài xế ngồi thanh thản bên vô lăng chờ lái xe đi, Na cười rất vui: -Ở Lào các cô các bác đi đường cứ yên tâm, không nên vội vã, nôn nóng. Giao thông tại các đường phố rất thuận tiện. Người Lào vùng thủ đô chúng cháu đều sử dụng xe, gia đình nào cũng có xe hơi, có gia đình hai chiếc, do giá nhập khẩu rẻ và người làm công chức được Nhà nước cấp xe để tới công sở.
Chiều, trong niềm hào hứng, chúng tôi bắt đầu chương trình tham quan. Điểm đầu tiên là chùa Sí-mương, một ngôi chùa mà người dân cho là linh thiêng nhất Viêng Chăn. Rất đông dân Lào và du khách đến cầu phúc. Họ dẫn theo cả trẻ con, cùng nhau bái lạy các pho tượng Phật với ánh nhìn thành tâm cung kính. Không thắp hương và đốt vàng mã. Chỉ mùi hoa phảng phất theo bước đi. Tiếp tục sang ngôi chùa Sisaket đối diện bên kia đường. Chùa xây dựng năm 1818 từ thời vua A nu vông, ông vua cuối cùng của Lào. Ngôi chùa lưu giữ tới 10.136 bức tượng Phật lớn nhỏ khác nhau, bày dọc hai bên tả hữu, tầng thấp tầng cao với biết bao huyền tích không nhớ nổi. Đây là ngôi chùa cổ kính nhất Viêng Chăn hầu như nguyên vẹn, ít bị phá huỷ khi quân Xiêm (Thái Lan) xâm lược Lào.
Đặt chân trên quảng trường trước chùa Thạt Luổng, chúng tôi choáng ngợp trước một khoảng sân mênh mông. Chính diện là ngôi tháp Thạt Luổng cao 45 thước. Cả khối tháp rực rỡ ánh vàng ngự trên hàng chục bậc cấp. Thạt Luổng được bao quanh bởi ba lớp tường đồ sộ, trang trí bằng những cánh hoa sen và các tháp phụ đều sơn thếp vàng. Thạt Luổng là biểu tượng linh thiêng của Phật giáo Tiểu thừa Lào. Công trình chùa tháp kiến trúc mang đầy phong cách văn hóa và bản sắc Lào, đã trở thành một biểu tượng quốc gia in trên đồng tiền Kíp và quốc huy của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Thạt Luổng trong tiếng Lào là một thạt Phật giáo ở Viêng Chăn được xây dựng từ 1566 dưới triều vua Xệt Tha Thi Lạt, theo hình một chiếc nậm rượu, trên một phế tích của một ngôi đền Ấn Độ thế kỷ 13. Thạt Luông đã từng bị phá hủy trong cuộc xâm lược của người Thái vào thế kỷ 19 nhưng sau đó đã được khôi phục nguyên trạng. Theo truyền thuyết, trong tháp có lưu giữ xá lị của Đức Phật là một sợi tóc và rất nhiều châu báu.
Xế tay trái là khu vực nhà Hội trường đồ sộ kiến trúc cách tân - nơi tổ chức các Hội nghị lớn như kiểu Trung tâm Hội nghị Quốc gia của ta. Trên quảng trường, đây đó từng tốp người đi bộ thể dục đón gió và ánh chiều ngả bóng. Cuối ngày ở đây như được kéo dài hơn.
Hoàng hôn buông xuống. Vòm trời tựa một cái ô tím nhạt chuyển xẫm dần trên thành phố. Chúng tôi thả bộ về khu Tượng đài Chiến thắng Patuxay-Khải hoàn môn, trông xa sừng sững như Khải Hoàn môn ở thủ đô Pa ri của Pháp. Bên cạnh Khải hoàn môn là dinh Thủ tướng Lào. Dàn nhạc nước bắt đầu phun lên những cột hoa nước, những áng cầu vồng rất đẹp. Người đi dạo ở đây thật đông vui và lịch lãm. Quả thật, thủ đô Viêng Chăn đẹp một cách mơ mộng bên dòng Mê Kông kỳ vĩ.
Ăn bữa trưa đầu tiên tại một nhà hàng, chúng tôi thực sự chan hòa trong không gian văn hóa ẩm thực Lào. Tòa nhà kiến trúc toàn bằng gỗ. Trên tường treo những bức tranh tả về cuộc sống ngày xưa của người Lào, vẳng nghe tiếng bò kéo xe rống trên đường mòn, tiếng chày giã gạo thậm thịch bên thác nước… từ mặt lụa vang ra. Tiếp viên nhà hàng rót từng cốc bia mang cho từng người, bưng từng đĩa thức ăn bày vào bàn ăn. Rau xanh, rau luộc. Thịt gà, thịt heo. Cả món súp cá của vùng sông Mê Kông ngọt và thơm. Ai cũng cảm thấy hợp khẩu vị. Đồ ăn Lào nhiều hương vị. Thức ăn ngon thường đem ra sau. Ẩm thực Lào mang phong cách tương tự các quốc gia láng giềng Campuchia, và Nam Bộ của ta: Cay, chua và ngọt. Tuy nhiên, vẫn mang những phong cách đặc trưng rất riêng Lào. Các món thường nấu cay, song chắc biết đây là đoàn Việt Nam nên họ giảm nồng độ. Nhưng tôi vẫn bị vị cay làm nhoè mắt…
Sáng nay xe ô tô chạy men theo bờ sông Mê Kông đưa chúng tôi đến một nơi không thể bỏ qua khi du lịch Viêng Chăn. Đó là vườn Chư Phật nằm trong vùng Thà Đừa cách Viêng Chăn gần 30km. Thật thích thú với cảnh vật thanh bình, lúc vườn, rừng, suối róc rách hiện ra, lúc sông Mê Kông láng trắng mênh mang. Hai bên đường, phố thị, làng mạc vẫn một không khí trong sạch. Những căn nhà sàn bằng gỗ thấp thoáng dưới những rặng cây. Những quầy hàng vải, quần áo, bánh kẹo bày khiêm tốn dưới mái hiên. Những vườn rau xanh mướt. Mùi khoai nướng tỏa thơm từ tay những đứa trẻ. Những chiếc xe máy đi lại thong thả như thể đi dạo. Không thấy người túm năm tụm ba ngồi quán xá, nhậu nhẹt.
Vườn Chư Phật hay còn gọi là Bãi Phật (Buddha Park) xây dựng năm 1962 là một quần thể gồm hàng trăm bức tượng được đúc theo Phật thoại bằng bê tông dựng ngoài trời. Ngay cổng vào là một quả cầu lớn như một tòa lâu đài tròn xám mốc. Na giải thích: Đây là biểu tượng trái đất, bên trong ruột nó chứa đựng các cảnh địa ngục, với hàng trăm ô cửa vuông nhỏ kiểu cửa tò vò…
Tranh thủ thời gian, tôi và nghệ sĩ nhiếp ảnh Ngọc Huấn chui qua lỗ cửa chính, vào trong ruột quả cầu, leo các bậc xi măng lên đỉnh cây Phật, nhìn bao quát được toàn bộ vườn tượng với các quần thể tượng dựng trên thảm cỏ xanh mượt mà, xen những hàng cây nghiêng bóng. Ta có cảm giác như đứng trước một thế giới Phật cổ đại, nắng rót tràn trề vũ trụ và vô lượng thời gian. Đáng nể nhất phải nói đến pho tượng Phật khổng lồ dài tới hơn một trăm mét nằm thoát giới, đầu ngẩng cao, vẻ mặt ánh lên đức tin vĩnh hằng. Các bức tượng, nhóm tượng rải rác xung quanh nhiều cỡ lớn nhỏ, vô cùng phong phú về hình dáng, thể hiện những huyền thoại nội dung ghi chú được khắc trên những tấm bảng gắn ở dưới bằng tiếng Lào. Tượng Phật nằm uy nghiêm trầm mặc; voi ba đầu, rắn năm đầu, rùa, cá sấu… cách điệu theo truyền thuyết. Tượng đoàn nhà sư khất thực, dũng sĩ cầm gươm cưỡi ngựa, tượng hình người đầu lợn, vũ nữ uốn lưng… thật sinh động và huyền bí…
Chúng tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn, chìm đắm ngẫm ngợi về những điều răn của đạo Phật và ai cũng trầm trồ khâm phục ý tưởng của người xưa. Qua mỗi pho tượng là một câu chuyện, một truyền tích đầy sắc màu huyền thoại của thế giới Phật đất nước Triệu Voi, ta thấy nổi bật nghệ thuật đắp tượng của nghệ nhân, nghệ sĩ tạo hình Lào đầy tài năng và tâm huyết đến nhường nào. Họ đã hóa thân nhập hồn vào chất Phật, thánh thiện đến không nhận ra đời sống thật ở trần gian nữa…
(Còn nữa)
Dương Phượng Toại