Lê Hường duyên phận lục bát

Đề từ tập thơ Duyên phận (NXB Hội Nhà văn, 2024) của mình, nhà thơ Lê Hường trình một câu lục bát:“Du thuyền lục bát đôi câu/ Bơi qua biển rộng sông sâu cõi người…”.

Duyên phận là tác phẩm mới nhất của Lê Hường, gồm 80 bài thơ lục bát, xuất bản khi tác giả vào tuổi “bát thập lục”, thật trân quý.

Với 8 tập thơ và 3 tập văn xuôi, Lê Hường đã đóng góp quan trọng vào gia tài các tác phẩm văn học từ Quảng Ninh của đội ngũ tác giả một thời hùng hậu: Võ Huy Tâm, Lý Biên Cương, Trần Nhuận Minh, Triệu Nguyễn, Dương Hướng, Như Mai, Tô Ngọc Hiến, Sỹ Hồng, Yên Đức, Tạ Kim Hùng, Nam Ninh, Võ Khắc Nghiêm, Mai Phương, Thi Sảnh, Trần Ngọc Tảo, Trịnh Công Lộc, Phan Thanh, Nguyễn Châu, Trần Tâm, Nguyễn Thị Xuân…

Tôi biết nhà thơ Lê Hường khi ông là Phó Giám đốc Nhà Xuất bản Quảng Ninh, làm việc cùng những người quen biết: Triệu Nguyễn, Nguyễn Châu, Nguyễn Hồng Hải, Vũ Quý… Bản thảo tiểu thuyết “Bến không chồng” của nhà văn Dương Hướng được đưa đến nhà xuất bản này đầu tiên, nhưng việc biên tập bị câu dầm, mãi vẫn chưa xong. May được ông ủng hộ, Dương Hướng nhanh chóng rút lại bản thảo, tìm đường in ấn trên Hà Nội, do đó tiểu thuyết có cơ hội được vinh danh. Khi Nhà Xuất bản Quảng Ninh giải thể, ông chuyển sang Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh công tác, giữ đến chức cao nhất: Chủ tịch Hội, Tổng Biên tập Báo Hạ Long. Lần đầu tiên báo Hạ Long in quảng cáo khi Tổng Biên tập là ông và do tôi chắp nối hợp đồng với Bưu điện tỉnh. Ông là người nhẹ nhàng, hiền lành, nhưng luôn quyết được những việc có tính chất mấu chốt.

Lâm nghiệp là ngành nghề đầu tiên của ông và vợ. Bài thơ “Đêm trăng mùa quả chín” cũng là tên tập thơ đầu tay (năm 1990) của Lê Hường có những câu thơ đẹp đến tinh khôi: “Bao mùa trăng qua đất nông trường/ Anh chưa thấy đêm nào trăng đẹp thế/ Cây nhấp nhoá sông trăng dâng như bể/ Em khẽ cười hương quả chín bay xa…”

Nhà thơ Lê Hường
Nhà thơ Lê Hường

Lê Hường được trao giải Ba về thơ cuộc vận động sáng tác do Hội Nhà văn Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp phối hợp tổ chức năm 1967 và 4 lần nhận Giải thưởng Văn nghệ Hạ Long của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đến với tập thơ Duyên phận, xin dẫn ra những câu thơ mà tôi tâm đắc và thú vị, như là vui mừng trước những cảnh điểm diễm lệ của hành trình “du thuyền lục bát đôi câu”…

Trong tập thơ Duyên phận, Lê Hường giới thiệu rõ thôn – xã – huyện – tỉnh quê mình: Yên Vĩnh, Dạ Trạch, Khoái Châu, Hưng Yên. Dù bây giờ huyện không còn và tên xã đã khác, nhưng đối với người trên 60 năm xa quê từ tuổi trẻ như ông, những cái tên quê hương vẫn nguyên vẹn nhớ thương cùng lời ru của mẹ:

 - Lời ru của mẹ còn đây

Hàng cau với bể nước đầy còn kia

Ao nhà con ném thia lia

Còn xao động cả ngàn tia nắng vườn.

Những bông hoa nở li ti

Đầu vườn chớp trắng hàng mi gọi mời.

(Lời ru của mẹ)

 Hai bài thơ Vườn xưaTiếng gọi của Lê Hường đoạt giải nhì (không có giải nhất) cuộc thi thơ Tứ tuyệt mở rộng của Tạp chí Kiến thức ngày nay năm 2010. Vườn xưa vẫn là “tìm lời ru” của mẹ, còn Tiếng gọi đã không có hồi đáp lại còn nhận về nỗi niềm nghịch cảnh:

 VƯỜN XƯA

Dấu chân của mẹ còn đây

Vườn xưa ríu rít dăng đầy tiếng chim

Bơi qua ba nổi bẩy chìm

Con về bạc tóc nhặt tìm lời ru!

 TIẾNG GỌI

Gọi nhà – cửa đóng then cài

Gọi giời – lác đác rơi vài hạt mưa

Gọi em – không một tiếng thưa

Gọi đò – đám rước dâu vừa qua sông!

 Với cây đa cổ thụ của làng thì khác, chứng kiến tất cả và sẵn sàng sẻ chia tất cả, chỉ là ta có chịu lắng nghe hay không:

 - Cây đa cổ thụ thì thầm

Kể bao nhiêu chuyện thăng trầm làng tôi.

(Bên gốc đa làng)

 Những câu thơ lục bát về tình yêu, tình nghĩa vợ chồng của Lê Hường đều liên tưởng tới thơ, thật lãng mạn:

 - Mưa bao nhiêu nắng bao nhiêu

Yêu nhau nào kể chi nhiều nắng mưa!

(Lời yêu)

 - Thơ tình chép vội đôi câu

Quần sờn áo bạc nào đâu ngại gì!

(Gửi vào mưa nắng)

 - Anh đi công tác chiều nay

Khăn kia em giặt áo này em khâu

Hành trang nhiều nhặn gì đâu

Vài ba cuốn sách mấy câu thơ tình.

(Đường kim mũi chỉ)

 Tứ tuyệt lục bát Hoa quỳnh nảy nở và mộng mơ. Trong hoa có tình, trong tình có thơ, trong thơ có yêu, trong yêu có hạnh phúc:

 HOA QUỲNH

Đêm xuân đợi ngắm hoa quỳnh

Quỳnh hoa chưa nở, lòng mình nở hoa

Câu thơ gửi tặng em xa

Bỗng thành lộc biếc nở ra… hoa quỳnh!

 Quê vợ nhà thơ Lê Hường ở Ninh Bình, nên hình ảnh Hoa Lư, kinh đô một thuở, xuất hiện trong thơ ông một cách mật thiết:

 - Hoa Lư đá núi ngút ngàn

Đền đài in dấu sau làn mây bay

Kinh thành như vẫn còn đây

Bóng cờ Đại Việt còn bay ngang trời.

Rằng xa thì thật là xa

Ngàn năm chớp mắt vèo qua vương quyền.

(Miền bông lau)

 “Du thuyền lục bát” của Lê Hường đưa chúng ta đến khắp các vùng miền đất nước. Tại di tích Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội), ông đã thấy, đã ngẫm rồi tự vấn:

 - Soi vào mảnh gốm lặng thầm

Ngỡ ngàng gặp những thăng trầm ngàn xưa.

Lưỡi dao hoen gỉ nằm trơ

Bao nhiêu máu đổ đến giờ chưa tan?

(Hoàng Thành Thăng Long)

 Nhà thơ tiếc thương Nguyễn Trãi, và kêu lên tiếng kêu thương cùng chất vấn lịch sử:
- Hiền tài thì mặc hiền tài

Công thần vua cũng bỏ ngoài lời khuyên.

(Nguyễn Trãi)

 Ông trắc ẩn trước sắc màu thổ cẩm :

 - Mỗi tiếng thoi một tiếng thương

Bao nhiêu tiếng bấy nhiêu đường hoa văn.

(Sắc màu thổ cẩm)
Ông xót thương thân phận con người:
- Chạm tay vào đám tàn tro

Ngỡ như chạm những buồn lo kiếp người.

(Động người xưa)

 Những câu lục bát tri ân người vì nước mà hi sinh trong bài Hoài niệm Điện Biên:

- Miếng cơm manh áo đời thường

Lo toan bao nỗi khôn lường rủi may

Bao nhiêu ngôi mộ không tên

Âm thầm nằm giữa Điện Biên bây giờ

Hoa ban trắng đến sững sờ

Vong hồn tử sĩ ảo mờ rừng xa!

 Tới tỉnh Cao Bằng, nhà thơ như hái được câu thơ từ bầu trời lộng lẫy:
- Sông Bằng như giải lụa điều

Vầng trăng non tựa cánh diều vàng bay.

(Ngồi bên sông Bằng)

 Tại Thành cổ Quảng Trị, một trong những nơi đọng xương máu của cuộc chiến chống Mỹ xâm lược, ông viết:

- Ở đây ngọn cỏ biếc hơn

Bông hoa thêm thắm cây rờn rợn xanh

Rưng rưng nán lại không lâu

Khói hương tôi gửi đôi câu lên trời!

(Thành cổ Quảng Trị)

 Đến Đất mũi Cà Mau, ông tự hào rộng dài đất nước từ Trà Cổ, tưởng nhớ người xưa mở đất:

 - Từ Trà Cổ đến Cà Mau

Đường xa thăm thẳm sắc màu nhân gian.

Muôn con sóng cuộn bạc đầu

Ngỡ như vóc dáng dãi dầu người xưa.

(Đất mũi Cà Mau)

Với quê hương Quảng Ninh, ông có được hai cặp lục bát thú vị về hai đảo Vĩnh Thực và Thẻ Vàng. Chỉ có thơ mới đặt lại được tên cho Bến Hèn, bến tắm du lịch ở đảo Vĩnh Thực thành Bến Hẹn, và đảo Thẻ Vàng có hình ảnh “hàng mi nhẹ nhàng”:  

 - Bến Hèn hay Bến Hẹn đây

Mà bờ cát trắng như mây gọi người.

(Bến Hẹn)

 - Ngủ nào… đảo nhỏ thầm thì

Ngôi sao đậu xuống hàng mi nhẹ nhàng.

(Đêm ở đảo Thẻ Vàng)

 “Du thuyền lục bát” mang tên Lê Hường cập bến tâm thức thuận theo mưa nắng, để gió cuốn đi:

 - Ngoài kia tiếng biển mênh mang

Trong này ly cốc chạm vang tiếng cười

Một ta lạc chỗ đông người

Mắt rưng rưng bóng một thời hàn vi.

(Gửi vào mưa nắng)

 - Bao nhiêu đắm đuối một thời

Giờ đem tung cả lên trời gió bay!

(Gió bay)

Duyên phận trải rộng không gian ra cả ngoài nước, với nhiều chiều thời gian, nghiêng về quá khứ cảm thương. Có lẽ vì thế mà lựa chọn lục bát cho tập thơ cũng là duyên phận của tác giả?

Vẫn còn nhiều câu thơ hay chưa được giới thiệu đầy đủ ở đây, bạn đọc sẽ có được những gì mình yêu thích, khi trên tay mở ra Duyên phận.

Với tập thơ Duyên phận - một “du thuyền lục bát”, nhà thơ Lê Hường – người chế tạo du thuyền kiêm thuyền trưởng – luôn chào đón du khách tới trải nghiệm và khám phá “biển rộng sông sâu cõi người…”

Hạ Long 15/3/2026

Cùng chuyên mục