Đến thăm gia đình ông Vũ Văn Chính, khu 3, phường Nam Hoà (TX Quảng Yên), một trong những hộ đan thuyền nan có quy mô lớn nhất, nhì trong phường, ông Chính buồn rầu chia sẻ: Gia đình tôi đến nay đã có 3 thế hệ cùng làm nghề đan thuyền nan. Thế nhưng, đến nay nghề này đang có nguy cơ mất dần trên đất Nam Hoà bởi thị trường hạn hẹp, sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ. Nếu vào thời điểm năm 2010, một ngày có cơ sở bán được cả chục con thuyền là chuyện bình thường, nhưng đến thời điểm này, trung bình mỗi tháng cũng chỉ bán được 6-7 con thuyền đã là nhiều. Trừ chi phí nguyên liệu thì thu nhập còn lại chẳng là bao.
Lý giải về tình trạng trên, ông Chính cho biết, một phần do kinh tế khó khăn nên khách ngại đặt những con thuyền cỡ lớn. Bên cạnh đó những năm gần đây, khách hàng lại chuộng sản phẩm thuyền composite.
Cùng chung nỗi niềm với Nam Hoà, làng nghề đóng tàu ở Hà An (Quảng Yên), cũng đang phải lao đao trước những khó khăn.
Ông Vũ Đức Hoàn, Chủ tịch UBND phường Hà An cho biết: Trước đây, các xưởng đóng tàu trên địa bàn phường chủ yếu đóng tàu vỏ gỗ, để phù hợp với nhu cầu của thị trường, đến nay đã có khoảng 2/3 các xưởng chuyển đổi từ đóng tàu vỏ gỗ sang đóng tàu vỏ sắt. Việc chuyển đổi từ đóng tàu vỏ gỗ sang vỏ sắt đối với các xưởng tàu ở Hà An là tất yếu. Tuy nhiên, hạ tầng cơ sở tại hầu hết các xưởng tàu hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu để đóng mới tàu vỏ sắt, đặc biệt là tàu sắt trọng tải lớn. Trước đây, do chỉ đóng và sửa chữa các con tàu vỏ gỗ, trọng tải thấp nên mặt bằng nhỏ các công ty cũng vẫn hoạt động được. Nhưng khi chuyển sang đóng tàu vỏ sắt, doanh nghiệp cần phải đầu tư lại cơ sở hạ tầng, đầu tư nguồn vốn, trong khi đơn vị chưa thể tiếp cận được vốn vay ưu đãi của ngân hàng... Mặt khác, hầu hết các xưởng đóng tàu trên địa bàn phường chủ yếu tập trung ở Cụm công nghiệp (CCN) Hà An. Tuy nhiên, hiện tại cơ sở hạ tầng của CCN như điện, đường, nước sinh hoạt... vẫn chưa được quan tâm đầu tư.
Tại huyện Đông Triều, ông Nguyễn Văn Sơn, chủ một cơ sở sản xuất gốm, sứ và vật liệu xây dựng ở Mạo Khê cho biết, cách đây khoảng chục năm, khi nền kinh tế thế giới chưa rơi vào suy thoái khủng hoảng, sản phẩm gốm, sứ của gia đình ông không chỉ bán rất chạy ở thị trường trong nước mà còn được mang sang các hội chợ ở châu Âu. Mỗi lần mang hàng sang tham dự hội chợ ở Đức, trừ chi phí, cơ sở của ông còn lãi được hàng trăm triệu đồng. Còn giờ thì các cơ sở sản xuất của ông đang phải hoạt động cầm chừng, một phần do suy thoái kinh tế, phần nữa là do thiếu sự định hướng của nhà nước trong chiến lược phát triển.
Thực trạng hiện nay của các làng nghề truyền thống, chủ yếu tự phát, quy mô nhỏ lẻ, người dân “mạnh ai nấy làm”, chưa có sự liên kết trong khâu tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Người dân chưa biết cách tổ chức sản xuất, phát triển sản phẩm và tiếp thị; khả năng sáng tạo còn thấp, chất lượng sản phẩm không ổn định, sản phẩm không đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Lao động ở các làng nghề truyền thống hầu như chưa được đào tạo để có thể tiếp nhận, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất... Tất cả những yếu tố trên đã tác động đến các cơ sở sản xuất của các làng nghề truyền thống, khiến cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ đã khó càng khó khăn thêm.
Để phát huy hiệu quả kinh tế của những làng nghề truyền thống, thiết nghĩ cần sớm có quy hoạch chi tiết xây dựng làng nghề, ngành nghề nông thôn phù hợp nhằm khai thác, phát huy những ngành nghề lợi thế của từng vùng, từng địa phương; tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch các cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làng nghề của các huyện, thị xã, thành phố để có định hướng đầu tư phát triển hiệu quả. Muốn duy trì sự phát triển bền vững của các làng nghề thì vấn đề quan trọng nhất là nguồn kinh phí. Đồng thời xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm, điểm công nghiệp làng nghề hiện có theo hướng đồng bộ chú trọng khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng hạ tầng làng nghề; gắn công tác quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng với việc ban hành và thực hiện tốt các chính sách về thu hút đầu tư, ưu đãi đầu tư… Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các cơ sở tham gia quảng bá sản phẩm thông qua các hội chợ; chuyển giao công nghệ tiên tiến vào các khâu sản xuất, xử lý môi trường, chuyển dịch từ quy mô nhỏ mang tính truyền thống sang phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển các loại sản phẩm mới có chất lượng cao. Cùng đó, cần chú trọng việc hỗ trợ chính sách phát triển thị trường, hỗ trợ thiết kế mẫu mã sản phẩm, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn; xây dựng chính sách kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn để thu hút lao động địa phương; ưu tiên phát triển các ngành nghề truyền thống, các ngành nghề khai thác tiềm năng về đất đai, lao động, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ... Chủ động ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm; từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm; tập trung khai thác nguồn nhân lực tại chỗ nhằm thu hút, tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho người lao động tại khu vực nông thôn… Như vậy, các hộ dân, làng nghề truyền thống có cơ hội bắt nhịp với thị trường thông qua những hỗ trợ của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững các làng nghề.
Cao Quỳnh