Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1-1-2015. So với Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam trước đây thì, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam có một số điểm mới. Với đặc thù là tỉnh có đường biển, cửa khẩu, ngành du lịch phát triển mạnh, trong đó lượng khách nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn nên vừa qua, UBND tỉnh đã chủ trì tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Nhân dịp này, phóng viên Báo Quảng Ninh đã có cuộc trao đổi với Đại tá Trần Văn Dự, Phó Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an xung quanh nội dung này.
- Xin đồng chí cho biết những điểm mới cơ bản của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam?
+ Thời gian qua, Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đã tạo thuận lợi cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam tham quan, du lịch, tìm hiểu thị trường, hợp tác đầu tư, kinh doanh, học tập, nghiên cứu khoa học… Việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam không chỉ có ý nghĩa về chính trị - pháp lý, mà còn tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, nhất là khi nước ta đang chủ động hội nhập quốc tế. Do đó, cần thiết phải luật hoá các quy định hiện hành để nâng cao tính pháp lý, phù hợp yêu cầu thực tiễn, tạo hành lang pháp lý quản lý hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam được thống nhất, đồng thời giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.
Có thể nói, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam là luật đầu tiên không có văn bản hướng dẫn luật do các thủ tục hành chính có liên quan đã được quy định cụ thể trong luật mới này.
Điểm mới của luật này liên quan nhiều đến thị thực. Quy định trong luật, thị thực được xác định bằng ký hiệu cụ thể, rõ ràng cho từng mục đích nhập cảnh như (có 20 loại ký hiệu thị thực so với chỉ 10 loại trước đây); thời hạn thị thực có thể được cấp tới 5 năm cho nhà đầu tư (so với tối đa 12 tháng trước đây); thời hạn thẻ tạm trú của Việt Nam tối đa cũng lên tới 5 năm (so với tối đa 3 năm của quy định cũ); các thị thực đã được cấp không được phép chuyển đổi mục đích (nếu có lý do và yêu cầu thì phải xuất cảnh để xin thị thực với mục đích mới); thị thực và thời hạn tạm trú cấp cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài về Việt Nam thăm thân nâng lên tối đa 6 tháng (so với 3 tháng quy định cũ). Cùng với đó, luật cũng quy định miễn thị thực cho người nước ngoài vào khu kinh tế cửa khẩu, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; người Việt Nam định cư ở nước ngoài và thân nhân của họ sẽ được xem xét cấp giấy miễn thị thực; người nước ngoài được miễn thị thực theo diện Việt Nam đơn phương áp dụng sẽ được nhập cảnh không giới hạn số lượng nhưng thời gian cách nhau giữa 2 lần nhập cảnh ít nhất 30 ngày, đồng thời mở rộng thêm diện cấp thị thực tại cửa khẩu.
Thẩm quyền quyết định cho người nước ngoài xin thường trú thuộc Bộ trưởng Bộ Công an (trước đây một số trường hợp thuộc thẩm quyền Thủ tướng Chính phủ), thời gian làm thủ tục xin thường trú được rút ngắn và thời hạn thẻ thường trú sau 10 năm mới phải cấp đổi (trước đây là 3 năm)…
Trong luật này cũng có những điểm mới quy định về cư trú, tạm trú. Luật bổ sung quy định trách nhiệm của các cơ sở lưu trú phải chuyển thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài tới cơ quan quản lý xuất nhập cảnh (Khoản 2, 3 Điều 33). Quy định này nhằm giúp cho các cơ quan chức năng nắm được đầy đủ, kịp thời thông tin tạm trú của người nước ngoài, thực hiện tốt hơn công tác quản lý người nước ngoài, nhất là khi Việt Nam đã ký kết với các nước Hiệp định về miễn thị thực.
- Trân trọng cảm ơn đồng chí!
Nguyễn Huế (Thực hiện)