Bao đời nay, những ngọn hải đăng luôn được coi như những con mắt của biển. Và, ở nơi đầu sóng ngọn gió đó, có những người công nhân ngày ngày tận tụy với công việc gác đèn để cho “mắt biển” đêm đêm toả sáng...
Nỗi niềm người gác hải đăng
Từ bến Mũi Ngọc, chiếc “xuồng bay” đưa chúng tôi vượt qua những con sóng tung bọt trắng xoá tiến về phía đảo Vĩnh Thực. Đúng đợt gió mùa về, cái lạnh của gió hoà quyện với hơi nước của biển càng trở nên tê buốt. Đến đảo rồi tiếp tục di chuyển bằng ô tô chừng 6 cây số nữa mới tới Trạm Hải đăng Vĩnh Thực. Lên đến trạm đèn, một người đàn ông dáng người nhỏ, gầy, da sạm màu, mái tóc lốm đốm bạc, vồn vã bắt tay chúng tôi. Anh tên là Vũ Văn Dụng, sinh năm 1976, quê ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng, Trạm Trưởng Trạm Hải đăng Vĩnh Thực. Hải đăng Vĩnh Thực được xây dựng từ năm 1993, cao 18m, phải leo mất 152 bậc cầu thang mới có thể lên đến ngọn đèn. Chưa leo được nửa số bậc ấy, tôi đã mệt lử, nói không ra hơi. Nhưng anh Dụng vẫn thoăn thoắt vừa đi vừa động viên. Anh bảo, những người gác đèn ngày nào cũng lên, xuống vài lần thành quen, không còn thấy mệt nữa.
Nhìn về phía biển mênh mông, anh Dụng tâm sự: “Toàn đội chỉ có 8 người, công việc hàng ngày diễn ra đều đều với việc lau chùi bảng, đèn, bảo dưỡng thiết bị, bật đèn theo quy định và trực thay ca. Tôi đã gắn bó hơn 4 năm với ngọn đèn này. Đêm đến, biển tối đen, chỉ có trăng, sao và gió biển làm bạn, vì thế mà lắm lúc thấy cô độc, đêm đêm trằn trọc, 2-3 giờ sáng vẫn chưa ngủ được. Buồn, thơ thẩn đến nỗi, ở trạm có người 9 giờ tối rồi tự dưng đi ra chặt củi”. Nói rồi anh bảo: “Chúng tôi trụ được ở đây vì đặt trách nhiệm với công việc lên trên tất cả. Nhiều khi mệt kinh khủng nhưng đến giờ bật đèn vẫn bật dậy được ngay khi nghĩ đến ngoài biển mênh mông kia đang có những con tàu chờ dẫn đường…”.
Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trình đến Trạm Hải đăng Cô Tô. Lên đến trạm, một người đàn ông đang cặm cụi tưới rau trước sân trạm. Anh giới thiệu tên là Phạm Văn Huy, sinh năm 1977, quê ở Thái Bình, đã gắn bó 17 năm với nghề hàng hải, 5 năm với ngọn hải đăng Cô Tô. Làm nhân viên ở trạm nên cứ 3 tháng một lần anh Huy mới về thăm gia đình, đi từ sáng sớm mà đến tối mịt mới có mặt ở nhà. Anh Huy bộc bạch: “Ban đầu khi đi làm xa về nhà, bạn bè hỏi làm nghề gì thì nói làm ở hải đăng, nghe rất oách. Nhưng có ai biết được đằng sau công việc, chúng tôi còn biết bao điều tâm sự, muốn được chia sẻ. Chính vì vậy, cứ mỗi lần có những đoàn công tác trong đất liền ra thăm thấy đỡ buồn và cô đơn, đó chính là sự tiếp thêm sức mạnh cho những người công nhân chúng tôi vượt qua mọi khó khăn. Và để giải khuây, cho vợi nỗi buồn nhớ, ngoài các phiên trực, chúng tôi còn tăng gia nuôi thêm gà, chăm cây cảnh…”.
Không giống như Vĩnh Thực hay Cô Tô, Trạm Hải đăng Hạ Mai nằm một mình trên đỉnh núi của đảo Hạ Mai, thuộc xã đảo Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Anh Nguyễn Hồng Tuyên, Trạm trưởng, cho biết: “Trên đảo không có dân cư sinh sống nên tất cả hàng hoá lương thực, thực phẩm của chúng tôi đều được đơn vị tiếp tế mỗi tháng một lần. Nước sinh hoạt thì phụ thuộc vào thiên nhiên. Để phục vụ cuộc sống hàng ngày, chúng tôi trồng rau, nuôi gà…”. Nói rồi anh bảo: “Từ lúc vào ngành, tôi chỉ công tác tại các trạm quản lý tại Hải Phòng. Cách đây 7 năm, tôi nhận nhiệm vụ đến Hạ Mai. Ban đầu, tôi cũng rất tâm tư vì điều kiện sống quá thiếu thốn và khó khăn. Nhưng rồi công việc cuốn đi, nỗi buồn cũng vơi bớt. Mỗi tối, khi thấy ánh đèn tàu cá hay là ngư dân đánh bắt quanh đây chúng tôi cũng thấy vui, đỡ nhớ nhà một phần. Niềm vui giản dị đó đã động viên, khích lệ anh em chúng tôi rất nhiều, cố gắng làm sao công tác cho tốt”.
Kiên cường bám trụ
Ngày ngày, cứ 17 giờ 30 phút, vừa lúc mặt trời chuẩn bị ẩn mình trong làn nước xanh thăm thẳm, thì những ngọn hải đăng khu vực Đông Bắc (Vĩnh Thực, Cô Tô, Hạ Mai…) lại bắt đầu phát sáng, cho đến tận 6 giờ sáng hôm sau. Để duy trì ngọn đèn hải đăng hoạt động liên tục, những người đàn ông ở trạm hải đăng phải chia nhau ca trực. Bởi, các anh hiểu rằng, giữa biển trời bao la, ngọn hải đăng không chỉ là người bạn đường tin cậy của ngư dân đi biển mà còn như một cột mốc thể hiện chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc.
Kiểm tra, bảo dưỡng hải đăng, hệ thống điện, hệ thống pin mặt trời, ắc quy, trao đổi thông tin với các trạm liên quan và cung cấp thông tin về tổng công ty… là những công việc hàng ngày của các anh. Nói tưởng đơn giản nhưng lại rất phức tạp và nguy hiểm. Nếu như dưới mặt đất gió đang cấp 4, cấp 5 thì lên trên đỉnh hải đăng cao 18m, gió đã mạnh lên thành cấp 7, cấp 8; vào những ngày bão, gió lại càng hung dữ hơn. Khi leo lên bậc thang cuối cùng gần đỉnh đèn hải đăng Vĩnh Thực, anh cán bộ xã Vĩnh Thực đi cùng tôi cũng chỉ dám thập thò trong cửa, chứ không dám bước ra ngoài lan can để leo đến đỉnh đèn. Vừa ngó ra, anh vừa nhắc: “Nhà báo ơi, gió to như thế, vào đi không nguy hiểm lắm”. Vậy mà các anh ở trạm hải đăng vẫn thoăn thoắt leo lên đỉnh ngọn đèn để lau chùi “mắt thần”. Vừa lau, anh Dụng vừa tâm sự: “Giữa cơn cuồng phong, đèn biển càng phải phát sáng để làm hướng đi cho những con tàu đang tuyệt vọng. Lúc tôi mới ra đây công tác được 2 tháng, mưa to gió lớn, sét đánh cháy đèn, trong đầu nghĩ, đèn không sáng làm sao tàu biết đường cập bến, biết bao người sẽ phải thiệt mạng trong đêm bão. Vậy là tôi lại mặc áo mưa, leo lên ngọn đèn. Lúc ấy, vừa làm vừa thấy run”.
Dẫu khó khăn nhưng hải đăng Vĩnh Thực còn may mắn khi ở trên một hòn đảo có người dân sinh sống nên điều kiện còn thuận lợi hơn. Như ở Hạ Mai, để quản lý vận hành được hải đăng, anh em ở trạm đã phải vận chuyển nhiên liệu dầu diezen từ những chuyến tàu tiếp tế hàng tháng của đơn vị. Vì ở đảo Hạ Mai không có cầu tàu nên mỗi lần lấy nhiên liệu, họ phải chuyển tải từ tàu tiếp tế xuống tàu gỗ rồi từ tàu gỗ chuyển tiếp lên bờ. Anh Tuyên kể: “Khi tàu tiếp tế đến, chúng tôi phải bơm dầu từ tàu tiếp tế ra phi rồi vận chuyển bằng tàu gỗ đến gần bờ. Sau đó, anh em phải vần phi dầu đó hất xuống biển rồi lấy dây kéo vào sát bờ và vác lên nhà kho dưới chân núi. Tiếp đó, phi đựng dầu được trút ra từng can nhựa để anh em trạm gánh lên trên trạm đèn. Những hôm thời tiết tốt, biển êm thì lấy hàng tiếp tế còn đỡ, còn những hôm thời tiết xấu, biển động anh em lấy hàng tiếp tế rất khó khăn và nguy hiểm…”.
Chia tay các anh, những con người vừa giữ cho nguồn sáng cho “mắt biển” đêm đêm, vừa bảo vệ, khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ quốc đang sống một cuộc sống hết sức thầm lặng, tôi nhớ mãi lời tâm sự của anh Huy: “Mỗi người đều có sự lựa chọn nghề nghiệp riêng. Và chúng tôi tìm thấy niềm vui, ý nghĩa trong công việc của mình”.
Lưu Linh