“Mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ phá vỡ sự ổn định cấu trúc gia đình, gia tăng mại dâm, bạo hành giới, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái...”

(Ông Lê Minh Hải, Phó Giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục DS - KHHGĐ, trao đổi với PV Báo Quảng Ninh).

Ông Lê Minh Hải.
Ông Lê Minh Hải.

Trong những năm qua, công tác dân số và KHHGĐ của Quảng Ninh đã đạt được những kết quả quan trọng, cơ cấu dân số đã đạt “cơ cấu dân số vàng”, chất lượng dân số ngày càng được nâng lên. Đây là điều kiện thuận lợi góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân trong tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vài năm trở lại đây, công tác dân số và KHHGĐ đang gặp phải những khó khăn, thách thức mới, một trong những vấn đề bức xúc nhất hiện nay đó là tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS)... Trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, ông Lê Minh Hải, Phó Giám đốc Sở Y tế, Chi cục trưởng Chi cục Dân số - KHHGĐ cho biết:

+ Vấn đề MCBGTKS ở Việt Nam được báo động từ hơn 10 năm trước và đến thời điểm này, nó đã trở thành mối lo hiện hữu với tình trạng dư thừa nam giới và thiếu hụt nữ giới. Hiện nay, Việt Nam đang nằm trong top những nước có tỷ lệ MCBGTKS cao nhất thế giới…

- Vậy với Quảng Ninh thì thế nào, thưa ông?

Việc gia tăng tỷ số giới tính khi sinh không những không cải thiện được vị thế của người phụ nữ mà thậm chí còn làm gia tăng thêm sự bất bình đẳng giới...

+ Hiện Quảng Ninh đang nằm trong số 21/63 tỉnh, thành có tỷ số MCBGTKS cao nhất trong cả nước. Theo báo cáo của Trung tâm Dân số - KHHGĐ các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh, tỷ số giới tính khi sinh ở Quảng Ninh luôn đứng ở mức khá cao. Cụ thể, năm 2006 là 125 trẻ em nam/100 trẻ em nữ; 2007: 119,2/100; 2008: 122/100; 2009: 115/100; 2010: 108/100. Còn căn cứ vào kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, tỷ số giới tính khi sinh của Quảng Ninh là 115 trẻ em nam/100 trẻ em nữ, cao hơn nhiều so với mức trung bình toàn quốc (110,5/100) và càng cao hơn so với tỷ số giới tính khi sinh chuẩn (103-106). Nếu tình trạng MCBGTKS tiếp tục lan rộng nhanh, nó có thể trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, ảnh hưởng đáng kể đến cơ cấu giới tính và nhân khẩu học…

- Theo ông, đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng MCBGTKS?

- Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó nguyên nhân cơ bản là do xu hướng thích có con trai và xu hướng này lại có cơ hội tiếp cận để đạt được. Trong xã hội Việt Nam, chế độ phụ hệ truyền thống, con trai theo họ bố, con trai nối dõi tông đường, mới được vào nơi thờ tự… đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi cá nhân, gia đình, dòng họ. Tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, thích con trai hơn con gái, có con trai để chống gậy. Có nhiều phụ nữ chỉ sinh con gái phải chịu sức ép sinh thêm con trai từ phía cha mẹ chồng, đặc biệt khi người phụ nữ đó là con dâu trưởng hay con dâu độc nhất trong gia đình. Thêm nữa, hiện nay, các sách báo, ấn phẩm, trang web đã cung cấp thông tin, bí quyết để hỗ trợ cho việc lựa chọn giới tính thai nhi chưa được ngăn chặn và vẫn còn lưu hành trên thị trường. Cùng với đó, là sự phát triển ngày càng tốt hơn của hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân có trang thiết bị hiện đại, tình trạng lạm dụng các thiết bị siêu âm, nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính thai nhi tác động mạnh đến tỷ số giới tính khi sinh. Mặt khác, với đặc thù là người miền biển, vùng núi, nhu cầu lao động nam cao hơn lao động nữ cũng khiến người dân có tâm lý thích sinh con trai hơn…

- Nhưng qua kết quả khảo sát, một số địa phương có tỷ số giới tính khi sinh cao liên tục nhiều năm lại tập trung ở các vùng thành thị, trình độ nhận thức của người dân khá cao. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

+ Như đã nói ở trên, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng MCBGTKS. “Khát vọng” có con trai đã tồn tại, ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi cá nhân, gia đình, dòng họ. Hiện nay, ở vùng kinh tế phát triển, những gia đình càng khá giả và trình độ học vấn cao thì mất cân bằng giới tính khi sinh càng cao. Điều đó cho thấy không chỉ người nghèo, dân số ở các khu vực nông thôn còn nặng tâm lý “chuộng con trai” mà ngay cả ở thành thị, những người giàu vẫn mong muốn có con trai hơn. Khi mà xã hội phát triển, tỷ lệ sinh ngày càng giảm, ở thành phố quy mô gia đình ít con ngày càng phổ biến thì nhu cầu mong muốn có con trai ngày càng mạnh mẽ. Vấn đề đặt ra là có ít con song đứa con đó nhất định phải là con trai. Chính vì thế, rất nhiều cặp vợ chồng đã tìm đến các dịch vụ y tế tiên tiến để lựa chọn giới tính khi sinh ngay từ trước khi có thai như: Lựa chọn tinh trùng, xét nghiệm máu, gen, dịch âm đạo, tế bào, siêu âm trứng... Qua đó, họ có thể lựa chọn giới tính của con cái theo mong muốn của mình…

- Việc chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh sẽ dẫn đến những hệ lụy gì, thưa ông?

+ Sự MCBGTKS sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó lường như tệ nạn xã hội, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em, nạn mại dâm, tội phạm tình dục… ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của cá nhân, gia đình và là tai hoạ đối với sự phát triển bền vững của đất nước. MCBGTKS sẽ dẫn tới những thay đổi trong hệ thống hôn nhân và gia đình. Một bộ phận nam giới có thể sẽ phải kết hôn muộn và nhiều người trong số họ không có khả năng kết hôn. Việc gia tăng tỷ số giới tính khi sinh không những không cải thiện được vị thế của người phụ nữ mà thậm chí còn làm gia tăng thêm sự bất bình đẳng giới. Nhiều phụ nữ sẽ phải kết hôn sớm hơn, tỷ lệ ly hôn và tái hôn của phụ nữ sẽ tăng cao. Với số lượng lớn người không có cơ hội lập gia đình sẽ phá vỡ sự ổn định cấu trúc gia đình, gia tăng mại dâm, bạo hành giới, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái.

- Trước thực trạng nói trên, Quảng Ninh đã làm gì để giảm tốc độ gia tăng MCBGTKS?

+ Để giảm tỷ lệ giới tính trẻ sơ sinh chênh lệch, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện Đề án giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2011-2015, với mục tiêu đến năm 2015 giảm tỷ số giới tính khi sinh xuống còn 113/100 trẻ. Theo đó, biện pháp hữu hiệu nhất được Quảng Ninh thực hiện là tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức về nguyên nhân, tác động xấu của việc mất cân bằng giới tính khi sinh đến mọi người dân, trước hết là cán bộ, đảng viên, các cán bộ cộng tác viên dân số cấp xã, các chị em trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo. Từng bước vận động người dân giảm tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, giáo dục con cái có trách nhiệm với cha mẹ, không phân biệt con trai, con gái. Đồng thời tuyên truyền phổ biến để người dân thực hiện nghiêm Pháp lệnh Dân số trong đó nhấn mạnh đến việc cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức. Hiện nay, chúng tôi cũng đang thực hiện triển khai mô hình giảm thiểu MCBGTKS đến các địa phương trong toàn tỉnh.

- Để thực hiện được điều đó, khó khăn nhất hiện nay là gì, thưa ông?

+ Có lẽ, cái khó khăn nhất hiện nay đó là việc tuyên truyền, vận động để thay đổi hành vi, nhận thức của người dân. Bởi lẽ, động cơ phải có con trai đã tồn tại trong tâm lý của người châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng hàng nghìn năm nay. Chính vì vậy, việc giảm thiểu MCBGTKS không phải là việc có thể làm một sớm một chiều. Bên cạnh những nỗ lực của ngành Dân số, rất cần đến sự quan tâm hơn nữa của các ngành, các cấp, chính quyền địa phương, coi đây là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Và điều quan trọng nhất vẫn là ý thức của từng người dân trong việc quyết định sinh con tự nhiên. Đảm bảo cân bằng giới tính khi sinh là một trong những chỉ tiêu rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số.

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Thu Hương

Cùng chuyên mục