Hiện nay, cây thông đang được đánh giá là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và khai thác bền vững. Khác với các loại cây khác, cây thông có thể cho thu hoạch liên tục và lâu dài vài chục năm đến gần 100 năm và phù hợp với thổ nhưỡng nhiều vùng trên địa bàn tỉnh.
Đặc biệt, giống thông bản địa Quảng Ninh có nhiều đặc tính ưu thế vượt trội về sức sống và cho lượng nhựa cao hơn 1,7 lần so với các giống thông khác. Đã từng có thời kỳ diện tích thông gần như phủ kín các cánh rừng trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là khu vực miền Đông. Tuy nhiên, từ hơn chục năm trở lại đây, khi phong trào trồng keo phát triển, người dân ồ ạt chuyển đổi cây thông sang cây keo để rút ngắn thời gian thu hoạch thì diện tích thông ngày càng giảm. Hiện nay, diện tích cây thông chỉ chiếm phần nhỏ trong cơ cấu cây lâm nghiệp của tỉnh, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Thực tế để tăng diện tích thông, tỉnh đã khuyến khích các đơn vị, doanh nghiệp trong diện phải trồng rừng thay thế do đã sử dụng đất rừng vào mục đích khác lựa chọn cây thông để trồng, tuy nhiên diện tích này không lớn. Tỉnh cũng vận động các đơn vị ngành Than trồng thông trên diện tích hoàn nguyên môi trường ở các lò thôi khai thác, bãi thải mỏ, song chất đất ở đây cho thấy không phù hợp với các loại cây trồng, trong đó có cây thông, dẫn đến cây thông sinh trưởng và phát triển chậm.
Theo ông Mạc Văn Xuyên, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh, để nâng cao diện tích trồng cây thông thì chỉ có người dân và các doanh nghiệp lâm nghiệp là có tiềm năng nhất, nhưng cả hai chủ thể này đều gặp những khó khăn nhất định. Chị Nguyễn Thị Khuyên, một chủ rừng ở xã Tràng Lương, huyện Đông Triều cho biết: Thường thời gian sinh trưởng của thông kéo dài từ 15-20 năm mới được thu hoạch. Cứ cho là sau 10 năm thì việc chăm sóc cây giảm đi, đầu tư giảm đi thì chúng tôi cũng không dám làm bởi trong suốt khoảng thời gian dài đó gia đình lấy nguồn thu ở đâu để trang trải cuộc sống, chăm sóc con cái. Bởi vậy nên chị Khuyên cũng như nhiều người dân khác mới lựa chọn trồng keo, vốn là loại cây có thể cho thu hoạch trong khoảng 7 năm, ngắn hơn cây thông từ 2-3 lần, mặc dù là mức thu không cao.
Đối với các công ty lâm nghiệp, mặc dù hiện nguồn thu chính của nhiều đơn vị là nhựa thông thế nhưng việc đầu tư cho trồng mới, nhân rộng diện tích thông của các đơn vị này thì lại chưa được quan tâm đúng mức. Trong nhiều năm qua, diện tích trồng mới cây thông của các doanh nghiệp lâm nghiệp rất nhỏ giọt, không tương xứng với quỹ đất hiện có và giá trị của cây thông mang lại. Ngay như việc chăm sóc diện tích thông đã được Nhà nước trồng cách đây 5-10 năm trước theo dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (còn gọi là dự án 661) cũng còn khó khăn. Theo quy định đối với diện tích này, Nhà nước sẽ cấp kinh phí chăm sóc trong 4 năm đầu, đến khi nhựa thông được thu hoạch sẽ do những đơn vị được giao nhận rừng có trách nhiệm thực hiện. Tuy nhiên, qua đợt khảo sát mới đây của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, rất nhiều diện tích thông non thuộc diện rừng trồng 661 đang bị các loại cây rừng khác lấn át, nhất là các loại cây bụi. Tình trạng này không chỉ hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của cây mà còn dễ xảy ra cháy rừng, làm thiệt hại hoàn toàn diện tích thông đã trồng. Một số doanh nghiệp cho rằng kinh phí cho việc chăm sóc, bảo vệ cây thông khá lớn trong khi nguồn lực của các doanh nghiệp có hạn. Tuy nhiên, đây là lý do chưa chính đáng bởi cây thông chính là lợi nhuận lâu dài, bền vững của doanh nghiệp.
Phải khẳng định cây thông đang mang lại giá trị kinh tế cao, nhất là trong xu thế nhựa thông trở thành thứ nguyên liệu cần thiết không thể thiếu trong nhiều hoạt động sản xuất công nghiệp, dược liệu… do đó nhu cầu thị trường sẽ ngày càng lớn. Bởi vậy, tỉnh và các đơn vị chức năng cần phải có những chính sách phù hợp để nhân rộng diện tích thông, nhất là hai đối tượng chủ thể là người dân và các doanh nghiệp. Có thể khẳng định việc chuyển dịch cơ cấu cây rừng theo hướng những loại cây trồng lâu năm, bền vững là cần thiết và ai cũng nhận thấy rõ lợi ích. Thế nhưng với chu kỳ phát triển từ 15-25 năm mới được khai thác thì không phải người dân nào cũng thực hiện được. Bởi vậy, Nhà nước cần phải có một chính sách, sự hỗ trợ đủ mạnh, đủ thiết thực để tiếp sức cho người dân.
Việt Hoa