Mùa vàng nếp nương Ba Chẽ

Hàng năm, những ngày cuối tháng 10 là dịp bà con các dân tộc huyện Ba Chẽ vào mùa thu hoạch nếp nương. Những bó lúa vàng óng, trĩu hạt xen lẫn ánh nắng mới những ngày đầu đông được bà con đem phơi dưới sân nhà, mái nhà, phên giậu như những tấm thảm vàng thơ mộng. Đó là dấu hiệu của một mùa nếp nương được mùa.

Qua tìm hiểu tôi được biết không phải ngẫu nhiên năm nào bà con cũng được mùa như năm nay, bởi lẽ những năm trước lúc lúa nương đang ra đòng thì thời tiết nắng nóng khô hạn, không có mưa, nhưng năm nay mưa thuận gió hòa trong lúc lúa đang ra đòng gặp mưa, không có gió to do vậy mà nếp nương được mùa bội thu.

Chị Nịnh Thị Thít ở thôn Khe Lọng Ngoài, xã Thanh Sơn không giấu nổi niềm vui: Năm nay gia đình tôi thu hoạch riêng nếp nương ước khoảng 2 tấn, được trồng xen canh trên đồi keo, sa mộc mới được 1 năm tuổi. Nếp nương tạo thêm nguồn thu nhập cho gia đình tôi... Anh Đặng Đình Sơn, trưởng thôn Làng Mới, xã Nam Sơn cùng chung niềm vui: Năm nay gia đình tôi cấy nếp nương 14kg thóc giống, như những năm trước chỉ được gần 1 tạ, còn năm nay ước đạt 7 tạ. Vợ chồng tôi vui và phấn khởi lắm.

Do đặc thù sống trên vùng núi cao, với phương thức canh tác kết hợp giữa trên cạn, dưới nước, cùng với cấy lúa nước, lúa nương được bà con ở Ba Chẽ canh tác từ lâu đời. Nhiều năm trước, những cánh rừng già được bà con đốt nương để trồng lúa, hoàn toàn không có xen canh với cây trồng khác. Giờ đây thực hiện việc giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình theo quy định và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bà con từ bỏ lối canh tác lạc hậu sang trồng cây gây rừng kết hợp phương thức xen canh gối vụ. Trên cùng một diện tích đất, dưới sự hướng dẫn của Phòng NN&PTNT cùng với sự đổi mới trong nhận thức, bà con đã biết trồng keo, thông, sa mộc, quế. Tận dụng những năm đầu mới trồng, bà con xen canh trồng lúa với mục tiêu “lấy ngắn nuôi dài”, sau mỗi lần thu hoạch, những cây dạ lúa phân hủy sẽ tạo nguồn dinh dưỡng hỗ trợ cho cây trồng phát triển tốt hơn.

Nếu như lúa nước mỗi năm cho thu hoạch 2 vụ thì lúa nương mỗi năm chỉ thu hoạch một vụ. Thời điểm cấy lúa và thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch; thời gian, công việc thu hoạch kéo dài gấp 2-3 lần lúa nước, vất vả hơn do nếp nương nằm ở trên những đồi núi cao có độ dốc lớn, xa nhà. Khi thu hoạch phải dùng hái ngắt từng bông. Gạo nếp bình thường vốn hạt tròn, mập, còn nếp nương có ba loại: Vàng hạt dài, vàng đen hạt tròn có lông, vàng hạt nhỏ; mỗi loại đều có mùi thơm và độ dẻo khác nhau, sản phẩm nếp nương dùng để nấu cơm nếp, gói bánh vào các dịp lễ, tết, đám cưới và nấu rượu. Do không sử dụng phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật, sống trên những triền đồi Ba Chẽ quanh năm trong lành, mát mẻ, vì vậy nếp nương Ba Chẽ thơm, ngon, dẻo mang đặc trưng riêng của một vùng đất sơn thủy hữu tình, chân tình, mến khách. Ngoài ra, rơm nếp nương đem đốt thành tro lọc lấy nước để gói bánh do ăn rất ngon, dẻo và thơm.

Thóc nếp nương được bán với giá thành từ 15 đến 20.000đ/kg, nếu đem chưng cất thành rượu thông thường (ủ với men củ) giá thành từ 40 đến 50.000đ/lít. Rượu nếp nương đem nấu với men lá rừng theo tiếng dân tộc Dao gọi là rượu sán cá trẩu. Để có rượu sán cá trẩu phải trải qua nhiều công đoạn cầu kỳ, trung bình để có 10 lít rượu ngon phải nấu với 20kg gạo.

Xác định đây là đặc sản của địa phương, trong tháng 10-2012, cùng với măng mai, nấm linh chi, rượu nếp nương đã được huyện Ba Chẽ đề xuất với tỉnh xây dựng thương hiệu. Với những mong ước mùa màng bội thu, gà lợn đầy chuồng, gạo ngô đầy bồ, từ người Dao, người Tày cho đến người Sán Chay đều đầy ắp niềm vui, phấn khởi với mùa vàng trên núi. Rượu sán cá trẩu Ba Chẽ nếu được cấp thương hiệu, niềm vui sẽ nhân lên gấp bội với đồng bào các dân tộc Ba Chẽ, tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo bền vững trên vùng cao Ba Chẽ.

Vi Thị Tuyến (Phòng VH-TT Ba Chẽ)

Cùng chuyên mục