“-Chú có biết vì sao cái bản này lại có tên là Bản “Chuồng” không? Xa xưa nó là Bản... “Truồng” cơ! Sau rồi người ta đọc chệch đi thành Bản Chuồng thôi...” - Ông Đinh Vương, một người dân ở Bản Chuồng (xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu) quả quyết với tôi như vậy!
Thực hư tên bản...
Đầu xuân lên xã Lục Hồn (huyện Bình Liêu), Chủ tịch UBND xã Vi Xuân Hoà rủ tôi đi thăm bà con dân bản. Anh bảo sẽ dẫn chúng tôi vào 2 bản có cái tên khá lạ, đó là Bản Chuồng và bản Ngàn Chuồng. Mới nghe tôi đã thấy tò mò lắm rồi…
Từ trụ sở Uỷ ban xã đến bản Ngàn Chuồng dài chừng dăm cây số. Thật khó tin khi trước mắt tôi, con đường mà như Chủ tịch Vi Xuân Hoà nói, trước đây nó thuộc loại khó khăn nhất của huyện Bình Liêu, giờ lại đẹp đến vậy. “Đường được cứng hoá chẳng thua kém gì miền xuôi!” - Anh bạn đồng hành của tôi xuýt xoa.
Gia đình đầu tiên ở bản Ngàn Chuồng mà chúng tôi đến thăm là nhà ông Bảo. Thấy có khách lạ, lại cầm máy ảnh, cậu bé chừng hai, ba tuổi, cháu nội ông Bảo, quấn lấy chúng tôi tỏ vẻ thích thú lắm. Nhìn đứa trẻ chỉ mặc áo, không mặc quần, trong cái lạnh tháng Giêng ở miền núi thế này, tôi thấy thật ái ngại... Thấy vậy, ông Đinh Vương, một khách quen của gia đình từ Bản Chuồng đến chơi, cười cười: “Không sao đâu. Bọn trẻ ở đây quen rồi. Cha ông nó trước đây cũng đều thế cả mà…”.
Tôi lấy làm lạ, hỏi lại thì ông Vương ậm ừ: “-Thế chú không thấy cái tên của bản là… Ngàn Chuồng” ư?”. “-Cháu tưởng Ngàn Chuồng là do ở đây có nhiều chuồng trâu, bò chứ? Đi dọc đường thấy rất nhiều chuồng trâu, có cái chỉ đóng ba bốn cái cọc sơ sài, bên trên phủ rơm đó thôi?” - Tôi nói. Ông Bảo nghe vậy, tủm tỉm cười: “-Bản Chuồng và bản Ngàn Chuồng đúng là trâu bò đông đúc hơn các nơi khác thật. Không chỉ có trâu, bò đâu mà lợn cũng rất nhiều. Trước, đây vốn là nông trường chăn nuôi mà. Nhưng vì sao hai bản này lại có cái tên như vậy thì chú cứ để ông Vương ông ấy nói cho mà nghe!”.
Nghe chủ nhà bảo thế, ông Vương nhẹ nhàng đặt chén rượu xuống. Và như một già làng kể Khan mà tôi đã từng được nghe ở Tây Nguyên, ông Vương khề khà, rằng ngày xưa, muốn vào 2 bản xa xôi này phải đi qua con đường chênh vênh sườn núi… “-Ấy đấy, chính cái con đường mà các chú vừa đi, giờ đã được mở rộng ra đấy. Nay lại được đổ bê tông, nên không còn lầy lội như xưa nữa” - Ông Vương hồi tưởng, mắt nhìn xa xăm.
Cái con đường mà theo lời ông Vương, một bên là núi đá cao, gập ghềnh khó đi, dưới kia lại suối sâu cách trở ấy khiến dân bản mỗi khi muốn ra ngoài đều phải bì bõm lội qua suối. “-Ngày ấy, quần áo đâu có nhiều mà thay nên cứ đến bờ suối là ai ai cũng đều cởi quần ra cầm tay cho khỏi ướt. Già cởi, trẻ cởi, trai cởi, gái cũng cởi. Mà không chỉ dân ở 2 bản, khách ngoài vào cũng đều phải cởi tuốt… Từ đó, người các bản khác quen miệng, gọi là… Bản Truồng, nhưng do phát âm chệch đi, Truồng thành Chuồng…” - Ông Vương, nhấp thêm một hớp rượu, ôn tồn giải thích…
Nghe đến đây, tôi cười khúc khích… Ông Vương nheo mắt: “Chắc chú lại nghĩ xiên xẹo rằng Ngàn Chuồng nghĩa là cởi truồng… ngàn lần chứ gì? Ngốc ạ, “Ngàn” ở đây là “núi ngàn”, nghĩa là xa xôi… Thế thôi!”. Nói rồi ông tủm tỉm cười, đôi mắt thật hóm hỉnh.
Tôi quay sang, nửa đùa nửa thật hỏi anh Chủ tịch xã từng có thời “cởi quần vào bản” không, anh Hoà xua xua tay: “-Ấy là chuyện ngày xửa ngày xưa thôi. Giờ đường sá đi lại đâu có lội bì bõm nữa. Bản Chuồng và bản Ngàn Chuồng nay đã khởi sắc lắm rồi”. Anh Hoà còn bảo không chỉ hai bản này mà toàn bộ Lục Hồn trước đây là xã đặc biệt khó khăn của huyện Bình Liêu. Mọi chuyện âu cũng từ cái đường mà ra. Với gần như toàn bộ dân số là bà con dân tộc ít người, đời sống bám vào cây lúa, củ khoai và trồng rừng. Có năm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em của xã lên đến trên 30%. Những tập tục lạc hậu đè nặng lên đời sống bà con như sinh đông con, xây chuồng trại gia súc gần nhà, mai táng người thân trong các nghĩa trang tự phát gần khu dân cư v.v.. Toàn xã có 17 thôn, chưa đến một ngàn dân mà đã có đến 11 khu nghĩa trang. Nghĩa là cứ khoảng 80 hộ dân thì có một nghĩa trang. Chung quy cũng chỉ vì đường giao thông khó khăn, đi lại không dễ, nên dân bản mai táng người thân ngay gần nhà để tiện cho việc hương khói. Vì thế các nghĩa trang tự phát đã lần lượt ra đời. Khi phong trào xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh, bà con trong xã mới chuyển các ngôi mộ người thân quá cố về các nghĩa trang tập trung...
Câu chuyện đang rôm rả thì cháu bé nhà ông Bảo đi chơi đâu đó về. Tôi nhìn cậu bé tồng ngồng, chợt hiểu… Thảo nào lúc nãy ông Vương lại nói “cha ông chúng vẫn thế”. Bởi đây là… bản “Ngàn Truồng” cơ mà!
Khởi sắc từ thế mạnh chăn nuôi
Không biết câu chuyện của ông Vương có thực hay không, nhưng cho dù thực thì giờ đây nó cũng chỉ còn trong ký ức người già mà thôi. Còn Bản Chuồng và bản Ngàn Chuồng là nơi có thế mạnh về chuồng trại chăn nuôi thì hiện ai đến đây cũng thấy. Chủ tịch xã Vi Xuân Hoà tỏ ra rất vui, anh bảo: “-Không riêng 2 bản này đâu, năm nay cả xã triển khai mô hình nuôi lợn nái của Lâm trường kinh tế quốc phòng. Mỗi hộ nghèo được 3 con giống. Toàn xã có 20 hộ được hỗ trợ. Nhờ thế mà đàn lợn của xã đã lên đến trên 2 nghìn con, vượt mức kế hoạch đề ra. Đấy là chưa kể đàn trâu gần 900 con và đàn bò gần 300 con, gia cầm hơn 1 vạn con…”. Công tác phổ biến kỹ thuật chăn nuôi và phòng chống dịch bệnh cũng được thực hiện rất tốt. Xã đang phấn đấu năm nay có thêm đàn dê khoảng 35 con, đàn ong mật gần 200 tổ và đàn gia cầm cỡ khoảng 11 nghìn con. Ngoài nuôi lợn gà, trâu bò, thì trồng trọt cũng mang lại nguồn lợi đáng kể cho bà con Lục Hồn. Trong năm qua, toàn xã có 30ha keo đã cho gần 3 tấn gỗ, thu về gần 2 tỷ rưỡi đồng. Đấy là chưa nói đến hơn 1 tấn hồi, hơn 10 tấn quế vỏ và gần 1 tấn nhựa thông.
Ông Đinh Vương vốn là một già làng gắn bó cả đời với đất này. Ông bảo so với trước đây, Lục Hồn nay đã thay đổi một trời một vực. Sự thay đổi ấy bắt đầu từ cuối những năm 90 khi Nhà nước giao đất giao rừng. Mỗi nhà có độ dăm, ba ha đất sản xuất. Bà con dân bản bắt đầu yên tâm làm ăn. Cuộc sống không còn du canh du cư nữa. Các giống cây trồng mới được đưa vào sản xuất nhiều hơn. Học sinh đi học cấp 3 nhiều rồi. Năm vừa qua Lục Hồn có 4 em đỗ cao đẳng, đại học. So với ở đô thị, đồng bằng thì chẳng là gì, nhưng với ở đây, đó là cả một sự thay đổi lớn.
Nhân chuyện, anh Hoà kể, trước kia, ở bản Ngàn Chuồng, chuyện đẻ đông con và công tác vệ sinh môi trường là 2 vấn đề làm đau đầu chính quyền xã mỗi khi đi vận động bà con. Nhưng bây giờ mọi chuyện đã rất khác. Diện mạo nông thôn miền núi đã thay đổi từng ngày. Đường sá, nhà văn hoá được xây dựng khang trang hơn. Bà con trong xã phấn khởi hiến đất để làm các công trình công cộng. Nhiều người không tiếc công tiếc của, chung tay làm đường. Bản Cáu đã làm được hơn 1 cây số đường bê tông, bản Cáng Bắc hơn 600m, Lục Nà và Bản Chuồng mỗi thôn làm được trên dưới 300m bê tông. Bản Pạt và Lục Nà mỗi thôn có khoảng 300m đã trải cấp phối. Ngàn Chuồng trải được hơn 800m cấp phối. Đường làm đẹp rồi, ô tô đã vào đến bản. Nhà nhà đua nhau mua sắm xe máy. Ông Vương hồ hởi khoe: “Hiện nay chuyện một gia đình có đến hai, ba xe máy là “chuyện thường ngày ở xã”. Điện thoại thì người lớn hầu như ai cũng có…”. Theo anh Hoà, tính đến nay, Lục Hồn đã hoàn thành 11 trên 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Cả xã đang phấn đấu đến năm 2015 sẽ về đích xã nông thôn mới.
Khi đời sống bà con ngày một khấm khá thì những ngôi nhà kiên cố cũng mọc lên nhiều hơn. Ông Bảo chỉ sang những ngôi nhà mới xây của hàng xóm xung quanh. Chẳng cần nói đâu xa, so sánh căn nhà cũ mà ông Bảo đang ở với ngôi nhà mới còn đang thi công, cũng nhận ra điều đó. Ông bảo: “Lúc mới dựng nhà, gạch thì nặn ra từ đất sét, không nung. Làm gì có vôi vữa chứ nói gì đến xi măng. Sau này, có xi măng rồi thì mới trát một góc chỗ ngồi uống nước cho sạch sẽ và lịch sự hơn tý ấy thôi”. Hoá ra không chỉ có những đứa trẻ, mà những căn nhà ở đây cũng bao năm nay… “cởi truồng”! Tôi nhìn lên chỗ trát vữa xi măng chỗ góc ngồi uống nước, ở đó có mấy tấm giấy khen các loại, nhưng có đến 3 cái tên. Nào là Tằng Văn Bẩu, Đặc Văn Bảo và Đặng Văn Bảo. Ông Bảo cười, giải thích: “Đó đều là tôi cả. Chỉ là do thói quen không đăng ký chứng minh thư nhân dân nên tên tuổi cứ ghi lung tung, mỗi lần một kiểu. Cái thời ấy đã qua rồi. Giờ tên tôi chỉ một cách ghi là Đặng Văn Bảo…”. Chủ tịch Vi Xuân Hoà cũng xác nhận điều đó. Anh còn cho biết thêm, ông Bảo là một trong những người dân tiêu biểu nhất của bản Ngàn Chuồng. Trước ông là Trưởng bản, mới đây lại chuyển sang làm Bí thư chi bộ… Cuối năm vừa rồi, ông vừa mới xuống móng ngôi nhà rộng sát sườn ngôi nhà đang ở. Từ các góc của nền móng ngôi nhà mới, tôi thấy các đầu sắt nhô lên cao, bỏ lửng. Thì ra ông Bảo còn làm nhà có khung chịu lực nữa. Ông nói: “Đã không làm thì thôi, giờ đổi mới rồi, phải làm cho đàng hoàng. Tôi sẽ xây lên 3 tầng kiên cố. Anh em bạn bè giúp đỡ công thợ nữa thì cũng mất chừng 300 triệu đấy”. Theo ông Bảo cho hay, Ngàn Chuồng có 40 hộ thì hiện đã có 12 ngôi nhà tầng, chỉ còn 4 căn nhà đất lụp xụp nữa thôi. Cứ cái đà này chẳng bao lâu nữa, Ngàn Chuồng sẽ không còn một căn nhà xập xệ. Còn bên Bản Chuồng chỗ ông Vương có 109 hộ thì khoảng 40% có nhà mái bằng rồi. Ông Vương nói, ông tin là dăm năm nữa thôi, bản ông sẽ hết nhà cấp 4. Bà con dân bản cảm nhận được sự đổi thay đang diễn ra từng ngày…
Thay lời kết
Ông Bảo nâng chén rượu sắn “đặc sản” của bản mời mọi người đầu năm mới. Tôi chúc ông sớm hoàn thành công trình của mình và chúc Ngàn Chuồng có thêm thật nhiều những ngôi nhà như thế vào dịp Tết năm sau. Tạm biệt ông Bảo, chia tay Ngàn Chuồng, hình ảnh những ngôi nhà cao tầng khang trang mọc lên giữa núi rừng, khe suối cứ chập chờn hiện ra trong đầu tôi. Hình ảnh ấy mãi theo tôi suốt chặng đường về…
Phạm Học