Nâng cao hiệu quả các công trình cấp nước nông thôn

Thời gian qua, các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung không ngừng được quan tâm đầu tư tại các vùng nông thôn, góp phần quan trọng vào việc cải thiện chất lượng đời sống của người dân, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Tuy nhiên, để các công trình phát huy hiệu quả hơn nữa thì rất cần có sự quan tâm của các ngành, các cấp, địa phương và người dân.

Vận hành tại Trạm cấp nước xã Hồng Thái Tây - Hồng Thái Đông, TX Đông Triều.
Vận hành tại Trạm cấp nước xã Hồng Thái Tây - Hồng Thái Đông, TX Đông Triều.

Thực tế cho thấy, khó khăn nhất hiện nay đó là vốn đầu tư các công trình cấp nước tập trung nông thôn. Đơn cử như Chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn dựa trên kết quả đầu ra từ vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB) (Chương trình PforR, trong đó Quảng Ninh là một trong 8 tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Hồng triển khai). Được biết, việc giải ngân vốn của chương trình dựa trên số điểm đấu nối sử dụng nước (trên 85% số hộ dân đấu nối sử dụng nước). Triển khai chương trình, năm 2015, WB chỉ bố trí phân bổ tạm ứng từ 25-35% vốn của dự án. Trong khi đó, số vốn để triển khai các công trình là rất lớn nên toàn bộ số vốn còn lại hầu hết các nhà thầu thi công phải ứng vốn đầu tư. Ngoài ra, do nhận thức còn hạn chế, thói quen sử dụng nước sạch chưa có, kinh phí còn hạn hẹp nên một số công trình thi công xong nhưng các hộ dân không thực hiện đầu nối sử dụng nước. Đơn cử như công trình cấp nước xã Hải Lạng, huyện Tiên Yên, công trình có tổng mức đầu tư là trên 30 tỷ đồng. Công trình vận hành cấp nước cho người dân trên địa bàn xã từ ngày 15-3-2015, song đến nay, mới chỉ có 443/1.214 hộ dân đấu nối sử dụng nước, đạt 36,5% so với thiết kế. Vì vậy, công trình mới chỉ được bố trí 18 tỷ đồng, bằng 58,7% tổng mức đầu tư. Số vốn còn lại của công trình chưa được giải ngân cũng như không có kinh phí để vận hành do các hộ dân chưa ký hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền nước.

Những vướng mắc về giải phóng mặt bằng là nguyên nhân chính khiến việc thi công các công trình cấp nước tập trung chậm tiến độ. Hầu hết các công trình có địa bàn thi công trải rộng, theo tuyến,  nhiều vị trí giao cắt với công trình hạ tầng kỹ thuật khác, nhất là các công trình kết cấu hạ tầng khác như đường bộ, đường sắt, hệ thống thông tin, đường ống xăng dầu… Điển hình như công trình cấp nước xã Hồng Thái Tây - Hồng Thái Đông, TX Đông Triều, công trình được khởi công từ ngày 21-3-2014. Ngày 19-2-2015, công trình vận hành cấp nước cho người dân. Song, mặc dù đã chậm hơn so với kế hoạch 6 tháng nhưng đến nay dự án vẫn chưa được hoàn thành. Tổng số đấu nối đã thực hiện 1.100/3.533 đấu nối, bằng 31% so với thiết kế. Nguyên nhân của tình trạng trên là do hiện dự án vẫn còn 1,7km đường ống chính đi qua khu vực dân cư mới triển khai cắt phá tạo rãnh, chưa tiến hành đào, lắp đặt ống vì người dân không cho thi công, chờ giải phóng mặt bằng mở rộng QL18. Vướng mắc về giải phóng mặt bằng không chỉ khiến dự án cấp nước Hồng Thái Tây - Hồng Thái Đông chậm tiến độ mà hầu hết các dự án thuộc Chương trình PforR đều không đạt chỉ tiêu năm 2015. Số đấu nối sử dụng nước của các công trình đến nay là 1.880/10.000 đấu nối, bằng 18,8% kế hoạch năm 2015.

Ngoài ra, vấn đề về quản lý các công trình cấp nước tập trung nông thôn hiện nay đang tồn tại nhiều bất cập. Các công trình đang được quản lý theo 3 mô hình là đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp và các địa phương. Cụ thể, đơn vị sự nghiệp công lập (Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn, Ban Quản lý cảng Cô Tô, Trung tâm Thuỷ lợi giao thông và Môi trường huyện Đầm Hà quản lý) quản lý 6 công trình; doanh nghiệp (Xí nghiệp cấp nước đô thị Móng Cái, Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh) quản lý 2 công trình; địa phương quản lý 102 công trình. Trong khi các công trình do các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp quản lý hoạt động tương đối bền vững thì có tới 39/102 công trình hoạt động trung bình, 14/102 công trình hoạt động kém hiệu quả, 5/102 công trình không hoạt động do địa phương quản lý. Điển hình như trạm cấp nước Liên Hoà 3, xã Liên Hoà, TX Quảng Yên, trạm cấp nước được đưa vào sử dụng từ năm 2003 và giao cho HTX Nông nghiệp Liên Hoà 3 quản lý. Năm 2009, 70% đường ống dẫn nước trên địa bàn đã được thay mới, song do máy móc cũ kỹ nên công suất hoạt động không cao. Nguồn cấp nước cho các trạm này là nước từ hồ Yên Lập song việc dẫn nước về vùng đảo Hà Nam lại qua hệ thống kênh hở dài khoảng 20km. Kênh này đi qua hầu hết các xã, phường trên địa bàn thị xã, trong đó có nhiều cụm dân cư, điểm chợ nên hiện tượng vứt rác bừa bãi tràn xuống lòng kênh vẫn còn khiến nguồn nước bị ô nhiễm. Nước được lấy vào hồ bơm lên bể lọc, sau đó đưa xuống bể lắng. Trước khi bơm cho dân, HTX đã xử lý nước bằng cloramin B theo tỷ lệ thích hợp. Do chỉ được xử lý đơn giản nên nhiều năm qua chất lượng nước của trạm không đảm bảo. Ngày 14-1-2015, UBND tỉnh đã có công văn số 171 giao cho Công ty CP Nước sạch Quảng Ninh tiếp nhận, quản lý, vận hành và thực hiện đầu tư công trình cấp nước sạch cho các phường, xã Phong Cốc, Cẩm La, Liên Hoà và Yên Hải.

Ông Nguyễn Việt Anh, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Sở NN&PTNT cho biết: Bên cạnh sự giám sát chưa chặt chẽ, không ít các địa phương chưa đẩy mạnh rà soát lại các công trình cấp nước vệ sinh khu vực nông thôn theo Thông tư 54 của Bộ Tài chính và Kế hoạch số 2805 của UBND tỉnh quy định về việc quản lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung để làm cơ sở sắp xếp lại việc tổ chức, quản lý các mô hình. Nhất là bố trí kinh phí cho việc duy tu, bảo dưỡng các công trình cấp nước sạch nông thôn. Trong khi đó, Quảng Ninh chỉ có 10 công trình cấp nước có thu phí để bảo dưỡng, duy tu, số còn lại là cấp miễn phí. Để nâng cao hiệu quả của các công trình, đáp ứng nhu cầu của người dân thì rất cần có sự chung tay của các ngành, các cấp, địa phương và người dân.

Cao Quỳnh

Cùng chuyên mục