Nỗi lo ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi ở Đông Triều

Ra mở cổng đón tôi tại khu chăn nuôi lợn của gia đình, nằm trong khu chăn nuôi (KCN) tập trung tại xã Nguyễn Huệ (TX Đông Triều), bà Nguyễn Thị Khoảng thật thà hỏi ngay: Cô vào đây có thấy khó chịu không? Kể cả vừa mới xả nước dọn chuồng thì cũng không tránh được mùi hôi đâu…

Nằm giữa cánh đồng mênh mông nhưng ngay khi đi trên con đường trục chính dẫn vào đây, tôi đã cảm nhận được mùi đặc trưng của phân lợn xộc thẳng vào mũi. Quả thật, vào tận khu chuồng nuôi thì mùi phân lợn đậm đặc hơn nhiều. Trong khi đó, nơi sinh hoạt của vợ chồng bà Khoảng giáp với dãy chuồng nuôi nên việc tránh mùi gần như là không thể. 

f
Mô hình chăn nuôi lợn của hộ gia đình bà Nguyễn Thị Khoảng tại KCN tập trung xã Nguyễn Huệ còn khá đơn giản nên gây ô nhiễm mùi khá nặng nề. Ảnh: Phan Hằng

Gia đình bà Khoảng là hộ chăn nuôi giỏi ở đây nhưng chăn nuôi khá thuần tuý với hệ thống chuồng bán hở, không áp dụng được đệm lót sinh học cũng chưa dùng chế phẩm khử mùi... Vừa qua, bà đã xuất 100 con nhưng trong chuồng vẫn còn 500 con lợn thịt nữa. Nằm trong diện 20 hộ đầu tiên của xã chuyển chuồng trại ra đây vào cuối năm 2016, đầu năm 2017 nhưng bà Khoảng bảo, giai đoạn này, lợn rớt giá thảm hại khiến các hộ bị thua lỗ nặng nề, 7 hộ đã cạn vốn, hiện giờ chỉ còn 13 hộ vay vốn đầu tư nuôi lại vào đầu năm nay. Gia đình bà cũng vậy nhưng với suy nghĩ “mất từ lợn thì cũng đứng lên từ lợn”, để trả khoản lỗ lên tới 3 trăm triệu đồng, bà đi vay vốn để khôi phục sản xuất. Lứa lợn vừa rồi đã giúp gia đình thu hồi vốn, bù lỗ, có lãi, số lợn còn lại đang là hy vọng trông thấy có thể thu lãi về cho gia đình lên tới 500 triệu đồng.

Nuôi quy mô lớn, lợn được giá thì nông dân thành tỷ phú ngay, nhưng thực tế cũng cho thấy, mức đầu tư và chăm sóc đàn vật nuôi cần bỏ ra tiền bạc, công sức không nhỏ, độ rủi ro khá cao. Và phải chấp nhận “sống chung với mùi hôi”, vì dù có nhà cửa to đẹp trong làng nhưng 2 vợ chồng bà chủ yếu là ăn, ngủ tại đây để tiện việc chăm sóc đàn lợn.

Áp lực xử lý nguồn thải

Nước thải của các hộ chăn nuôi tại KCN tập trung xã Bình Khê sau khi được xử lý qua bể biogas, ao lắng vẫn bốc mùi hôi thối nồng nặc, đen nhờ nhờ và được đấu nối chảy ra con mương gần đó. Ảnh: Thanh Hoa

Qua tìm hiểu, việc kiểm soát số lượng lợn nuôi khá tự phát, như chia sẻ của bà Khoảng là “giá lợn tăng, lãi nhiều thì nuôi nhiều và ngược lại”. Đây có lẽ cũng là tâm lý chung của các hộ chăn nuôi, nhưng việc gia tăng đàn lợn không kiểm soát tất yếu dẫn tới áp lực cho vấn đề xử lý nguồn thải. KCN tập trung xã Nguyễn Huệ mới đưa vào hoạt động, số lượng lợn nuôi chưa nhiều, vào khoảng 4.000 đến 5.000 đầu lợn, nhưng theo ông Dương Doãn Chăm, Phó Chủ tịch UBND xã Nguyễn Huệ thì đã bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm, việc xử lý chất thải thông qua 2 ao lắng chưa thật triệt để. Trong khi đó, đây là vấn đề nóng ở KCN tập trung tại xã Bình Khê. Chị Hà Thị Liên, cán bộ Phòng Kinh tế thị xã, cho biết: Một dãy chuồng nuôi ở Bình Khê theo quy hoạch nuôi từ 200-250 con lợn, nhưng đa phần bà con nuôi nhiều hơn, có hộ nuôi tới 500 con. Các hộ đều có bể biogas riêng, trung bình 4-6 con/m3 bể nhưng các hộ nuôi tăng, vượt quá công suất thiết kế dẫn đến quá tải cho hệ thống xử lý môi trường chung...

Theo đánh giá, 3 xã An Sinh, Nguyễn Huệ, Bình Khê có quy mô chăn nuôi lớn nhất tại Đông Triều. Trong đó, như Bình Khê chỉ riêng nuôi lợn có hơn 360 hộ, hộ nuôi thành trang trại có quy mô từ 300 con trở lên, còn lại nuôi từ 50-100 con. Cả xã có 345 hộ xây dựng bể biogas, chủ yếu là các hộ chăn nuôi lớn. Ô nhiễm không khí là điều cảm nhận rõ nhất khi đến vùng có các hộ chăn nuôi lợn. Tiếp đó là mức độ ô nhiễm của hệ thống mương máng, ao hồ là nơi xả thải của các hộ chăn nuôi trong khu dân cư, dù đã qua bể biogas nhưng mức độ xử lý chưa triệt để, khi xả vào môi trường tự nhiên hoặc ngấm vào lòng đất đều tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm, dịch bệnh.

f
Các hộ chăn nuôi tại KCN tập trung xã Nguyễn Huệ hiện đều áp dụng mô hình chuồng bán hở, chưa áp dụng KHCN nhiều để xử lý môi trường. Ảnh: Phan Hằng

Trong khi đó, Nguyễn Huệ là “điểm nóng” nhất vì quỹ đất ít, nhu cầu chăn nuôi nhiều, đặc biệt số đầu lợn rất lớn trong khi hệ thống mương máng kém, nhà sát nhà... Ông Dương Doãn Chăm thừa nhận, tìm ra giải pháp xử lý vấn đề ô nhiễm trong khu dân cư rất khó khăn. Nhà nước hỗ trợ, bà con cũng đã xây hơn 500 bể biogas rồi nhưng chăn nuôi công suất lớn nên việc xử lý môi trường không bảo đảm. Đơn cử ngay như hộ bà Khoảng, với 2 bể biogas có tổng dung tích 60m3 đáp ứng cho tối đa 360 con lợn, nhưng thực tế, gia đình nuôi vượt lên tới cả trăm con.

Cần sự nỗ lực từ nhiều phía

Việc xây dựng các KCN tập trung là một giải pháp hữu hiệu cho phát triển chăn nuôi hàng hoá của Đông Triều, đưa chăn nuôi ra xa khu dân cư, giảm thiểu ô nhiễm môi trường chung. Nhưng với 2 KCN tập trung tại Bình Khê và Nguyễn Huệ đã cho thấy, nguy cơ cao về sự ô nhiễm ngay tại đây khi mà công suất nuôi lợn của các hộ không được kiểm soát.

Nói về vấn đề tưởng đơn giản này, chị Hà Thị Liên phân tích: “Lợn trong chuồng nuôi của các hộ làm sao mình vào đếm từng con được. Nhiều hộ nuôi theo công nghệ chuồng kín, quy trình phòng, chống dịch bệnh rất nghiêm ngặt, nên họ thường không cho người lạ vào chuồng, nhà nào biết nhà đấy. Thậm chí, cùng một hộ nuôi nhưng 2 dãy chuồng khác nhau thì người chăn nuôi dãy này cũng không sang dãy chuồng kia. Mỗi KCN tập trung đã thành lập 1 hợp tác xã với các thành viên, có quy chế hoạt động nhưng không có chế tài xử phạt...”.

f
Các hộ chăn nuôi phần lớn đều nuôi với số lượng lợn nhiều hơn so với công suất bể biogas, là áp lực cho vấn đề xử lý nguồn thải chung. Ảnh: Phan Hằng

Với KCN tập trung tại xã Bình Khê, thực tế cho thấy sự cần thiết phải mở rộng thêm để chống quá tải cho hệ thống xử lý môi trường chung so với quy hoạch, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh. Để thực hiện dự án này, việc họp lấy ý kiến người dân về dự án nay đã xong, đang hoàn thiện để bổ sung quy hoạch, dự kiến đến cuối năm nay đưa dự án vào triển khai thực hiện.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, cuối năm 2017, TX Đông Triều đã xây dựng dự án nâng cấp hệ thống thoát nước chung, đưa chế phẩm sinh học vào chăn nuôi tại thôn 8 Nguyễn Huệ - một trong những thôn có nhiều hộ chăn nuôi lợn nhất của xã, nhằm hạn chế mức độ ô nhiễm trong khu dân cư. Nhiều xã cũng mong muốn có KCN tập trung, với 2 xã Bình Khê và Nguyễn Huệ là việc mở rộng KCN tập trung theo quy hoạch đã phê duyệt, vì ngân sách thị xã đầu tư cơ sở hạ tầng mới được 3ha/KCN tập trung. Ông Dương Doãn Chăm chia sẻ: Năm 2017, Nguyễn Huệ đã bỏ 1 tỷ đồng từ nguồn kinh phí chi thường xuyên để xây dựng cơ sở hạ tầng KCN tập trung thêm 2,1ha, dự kiến tháng 8 này sẽ đưa tiếp 20 hộ chăn nuôi nữa ra đây. Mong rằng, thị xã sẽ sớm đầu tư kinh phí GPMB, xây dựng cơ sở hạ tầng trên diện tích 3,1ha còn lại theo quy hoạch, vì nguồn kinh phí rất lớn, địa phương không đủ điều kiện thực hiện.

Không chỉ chăn nuôi lợn, nhiều xã của Đông Triều phát triển chăn nuôi với quy mô lớn đàn gà, bò sữa nhưng phần lớn các hộ đã tận dụng điều kiện vườn đồi, xa khu dân cư tập trung hoặc có các giải pháp để giảm thiểu tác động tới môi trường sống. Cụ thể, các thôn 1, thôn 2, xã Nguyễn Huệ cũng là trọng điểm chăn nuôi gà với thời điểm trung bình nuôi tới 40 nghìn con (mỗi hộ nuôi cả nghìn con gà). Người dân đã xử lý bằng đệm lót chuồng, phân được thu gom để bán cho các hộ trồng cây ăn quả. Bà con thôn Chi 8, xã Hồng Thái Đông cũng nuôi số lượng rất lớn, từ 30 nghìn tới 40 nghìn con gà/lứa với khoảng 8 đến 10 hộ nuôi tập trung. Tuy nhiên, người dân nơi đây chăn nuôi gà thả đồi, cách biệt khu dân cư tập trung. Hay như ở An Sinh, các hộ chăn nuôi lớn cả lợn, gà, bò sữa, có hộ nuôi thả cả trăm con bò nhưng với diện tích đất rất lớn, kết hợp với trồng cây ăn quả nên mức độ tác động tới môi trường ít hơn.

Mô hình chuồng nuôi theo quy trình khép kín của gia đình anh Nguyễn Văn Thành, thôn Trại Lốc II, xã An Sinh. Ảnh: Thu Trang.

Hiện An Sinh cũng có một số hộ đã áp dụng mô hình chuồng nuôi theo quy trình khép kín, cho hiệu quả cao như gia đình anh Nguyễn Văn Thành, thôn Trại Lốc II. Qua tìm hiểu, anh đã trồng dây leo phủ quanh chuồng để che nắng, tránh mưa tạt, gió lùa lại xanh dịu mắt. Khu chăn nuôi được thiết kế một dàn máy làm mát, gắn quạt máy thông gió. Anh phun thuốc khử trùng trung bình 1 tuần/lần, định kỳ phun thuốc khử mùi 2 lần/tháng nên khu chuồng nuôi khá sạch mùi. Với quy mô nuôi tới 200 con lợn nái, lợn con và lợn thịt, anh xây dựng hầm khí biogas để xử lý chất thải và tận dụng khí đốt phục vụ nhu cầu sinh hoạt. Việc giải quyết tốt mâu thuẫn giữa chăn nuôi với bảo vệ môi trường bằng mô hình sản xuất khép kín như hộ anh Thành kể trên là hướng đi tích cực, rất đáng để các hộ chăn nuôi nghiên cứu, đầu tư nhân rộng.

Thực tế cho thấy, việc giải quyết triệt để ô nhiễm môi trường khu dân cư do chăn nuôi rất khó khăn, cùng với vai trò của Nhà nước cần có sự tham gia chủ động, tích cực của người dân khi chăn nuôi gắn với ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong xử lý chất thải chăn nuôi. Cụ thể như: Đầu tư hệ thống chuồng trại phù hợp để áp dụng hệ thống xử lý mùi, sử dụng đệm lót sinh học, chế phẩm khử mùi trong chăn nuôi, dọn vệ sinh chuồng nuôi thường xuyên, nâng cấp, khơi thông mương máng. Việc xây dựng các bể biogas cần tính toán phù hợp với công suất nuôi, khi tăng đàn cần đầu tư thêm bể biogas, tránh tình trạng quá tải “có cũng như không”...

Chỉ có vậy, thiết nghĩ bài toán ô nhiễm môi trường do chăn nuôi nơi cửa ngõ Đông Triều mới có lời giải chính xác, góp phần đưa ngành chăn nuôi của thị xã phát triển thực sự hiệu quả, bền vững.

Phan Hằng

Cùng chuyên mục