Sau gần 20 năm mở cửa biên giới với Trung Quốc, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phát triển ngày càng tốt đẹp. Các khu thương mại, cửa khẩu quốc tế, điểm thông quan, cửa hàng miễn thuế... được hình thành tại các vùng biên góp phần vào việc phát triển kinh tế chung của tỉnh Quảng Ninh.
Mặc dù luôn chịu tác động chính sách biên mậu không ổn định của thị trường Trung Quốc, song hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu tại các khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh Quảng Ninh cơ bản vẫn giữ được sự ổn định và có xu hướng ngày càng phát triển mạnh. Tuy vậy, việc thu hút đầu tư để phát triển các khu kinh tế cửa khẩu hiện nay đang gặp nhiều khó khăn cần được các cấp, ngành quan tâm tháo gỡ.
Từ những kết quả ban đầu
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Chính phủ, của tỉnh nên các khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) đã huy động được nhiều nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển. Một số công trình hạ tầng quan trọng đã được xây dựng, đặc biệt là các công trình giao thông, cấp điện, cấp nước, công trình phục vụ phát triển thương mại, du lịch, văn hoá xã hội. Các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng được hoàn thành đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hoá, phát triển dịch vụ, thu hút các dự án từ các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh. Tạo động lực thúc đẩy một số ngành sản xuất phát triển, đồng thời góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo kết cấu hạ tầng mới cho khu kinh tế cửa khẩu và các vùng có liên quan. Thông qua hoạt động của khu kinh tế cửa khẩu đã từng bước mở rộng quan hệ giao lưu với các nước láng giềng, củng cố tình hữu nghị với Trung Quốc. Đặc biệt, đối với khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái, từ một địa phương trước năm 1990 kinh tế - xã hội chậm phát triển, thuần nông, lạc hậu, tỷ trọng nông nghiệp chiếm tới 80% GDP, đến nay, cơ cấu kinh tế thay đổi cơ bản ngành dịch vụ đạt trên 73%; công nghiệp xây dựng đạt trên 11,9%; ngành nông - lâm - ngư nghiệp đạt 14,9%. Trong giai đoạn 5 năm 2005-2010, kinh tế thành phố đã có mức tăng trưởng khá và tương đối bền vững, đạt trung bình 14,35%/năm, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt trên 1.500 USD, gấp 1,5 lần năm 2005.
Tuy nhiên, hiện hoạt động của các khu kinh tế cửa khẩu hiện nay đang gặp nhiều khó khăn do hạ tầng vẫn yếu, thiếu và không đồng bộ. Nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các khu kinh tế này hiện còn quá nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu. Đặc biệt kể từ khi thực hiện Luật Ngân sách nhà nước sửa đổi, không thực hiện việc cấp trở lại từ nguồn thu ngân sách tại các cửa khẩu để đầu tư mà thực hiện cơ chế hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương, nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu đã giảm đáng kể, nếu so với cơ chế trước đây, nguồn thu này giảm đến hơn 90%. Nguồn vốn đầu tư hạn hẹp dẫn đến hạ tầng kỹ thuật phục vụ chưa theo kịp tốc độ phát triển, không đáp ứng được nhu cầu giao thương trong khu vực.
Tăng cường thu hút đầu tư
Các khu kinh tế cửa khẩu của tỉnh được hình thành và phát triển tại các khu vực chưa có hạ tầng đồng bộ. Vì vậy, mặc dù các dự án được ưu đãi trên địa bàn, song đến nay vẫn chưa thu hút được nhiều dự án đầu tư. Trong khi đó, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các KKTCK hiện nay phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách Trung ương với mức hỗ trợ quá nhỏ, không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu cần đầu tư cho KKT.
Thực hiện chủ trương đa dạng hoá việc huy động nguồn vốn và các chính sách ưu đãi đầu tư, các KKTCK của tỉnh đã tích cực kêu gọi, thu hút nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với vai trò động lực thúc đẩy kinh tế cửa khẩu phát triển thì số lượng các dự án đầu tư tại các khu vực này còn quá ít, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của nền kinh tế hội nhập. Tính từ năm 2007 đến nay, mới có 35 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký là 8.643 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện tại, các dự án FDI đầu tư trong khu kinh tế cửa khẩu mới có 20 dự án (còn hiệu lực) với tổng vốn đăng ký đạt 247,656 triệu USD, vốn đầu tư thực hiện đạt 132,546 triệu USD. Một số dự án đã đầu tư và hoạt động hiệu quả lại chủ yếu tập trung tại khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái như dự án sân golf 18 lỗ của Công ty Liên doanh Vĩnh Thuận; dự án khách sạn, khu vui chơi giải trí có thưởng của Công ty cổ phần giải trí quốc tế Lợi Lai...
Với cơ chế điều tiết 100% số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu về ngân sách Trung ương như hiện nay trong khi địa phương có cửa khẩu vẫn phải lo kinh phí đầu tư hạ tầng cửa khẩu phục vụ chung cho cả nước, việc sửa chữa, nâng cấp hạ tầng phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu tại các KKTCK thường chậm, không đáp ứng kịp yêu cầu do thiếu nguồn lực đầu tư. Đặc biệt, việc cụ thể hoá các thể chế, chính sách của Nhà nước cho từng lĩnh vực cụ thể còn chậm, chưa đồng bộ và thiếu nhất quán ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và thu hút đầu tư. Cụ thể như, tại Quyết định số 24 ra ngày 17-2-2009 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế kinh doanh bán hàng miễn thuế. Theo đó, địa điểm cửa hàng miễn thuế được quy định phải đặt tại khu vực cách ly cửa khẩu quốc tế. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này do các dự án kinh doanh cửa hàng miễn thuế đang thực hiện theo quy định tại Quyết định 53/2001/QĐ-TTg bị dừng triển khai do pháp luật có sự thay đổi. Hơn nữa, Quy chế mới này cũng chưa quy định cụ thể về điều kiện kinh doanh, danh mục hàng hoá, thủ tục hồ sơ… Bên cạnh đó, chính sách bán hàng miễn thuế cho khách tham quan du lịch khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế cửa khẩu với mức 500.000 đồng/người thực hiện đến hết 31-12-2012 đã không khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh tại khu phi thuế quan...
Do vậy, để tạo động lực thu hút đầu tư xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại đáp ứng được yêu cầu hội nhập thì tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các tỉnh có các khu kinh tế cửa khẩu nói chung đều mong muốn Chính phủ sớm cụ thể hoá các thể chế, chính sách cho từng lĩnh vực như ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu, kinh doanh hàng miễn thuế, thanh toán biên mậu, thương mại biên giới, kiểm tra chất lượng hàng hoá...; sửa đổi các chính sách chưa đồng bộ và thiếu nhất quán ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và thu hút đầu tư.
Lê Hải