Cùng cuốc bộ trên con đường mòn ven theo sườn đồi lên bản Trình Tường II (xã Hoành Mô, Bình Liêu) với đoàn công tác của Sở NN&PTNT trong chương trình kiểm tra việc triển khai thực hiện chương trình 120 các xã giáp biên, đồng chí Phan Văn Cần, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn nói với chúng tôi: Dù các xã 120 đã đạt mục tiêu có đường ô tô đến trung tâm xã, nhưng để đi được đến các thôn, bản thuộc các địa phận này thì vẫn phải đi bộ là chính vì hệ thống giao thông thôn, bản hiện vẫn chủ yếu là đường mòn. Nhìn từ đây cho thấy muốn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực này không có cách nào khác là phải đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng để tạo sự thông thương hàng hoá, kích thích được sự phát triển.
Đúng như vậy, được đến các thôn, bản như Trình Tường II (Hoành Mô), Phật Chỉ, Nà Dun, Phai Lầu (Đồng Văn) huyện Bình Liêu, Cống Mằn Thìn, Lục Phủ (Bắc Sơn) TP Móng Cái, Khe Lánh I, Khe Lánh II (Hải Hà) chúng tôi đều nhận thấy rất rõ sự khó khăn của cuộc sống ở các thôn, bản vùng sâu, vùng xa giáp biên này. Vẫn những ngôi nhà tường trình đất nằm xen lẫn những ngôi nhà xây cho các hộ di dân định canh định cư kinh tế mới gần như cách biệt với nhịp sống hối hả bên ngoài. Có thôn, bản cũng đã có điện lưới quốc gia kéo đến tận nơi nhưng xem ra cuộc sống cũng chẳng khấm khá hơn là bao dưới căn nhà chật chội, bừa bãi đồ đạc người lớn, trẻ em. Thứ tài sản quý giá nhất với bà con ở các thôn bản này cũng chỉ là mấy bao thóc, bao ngô, vài con gà nuôi thả quanh nhà. Mà nguyên nhân chính của sự đói nghèo này cũng xuất phát từ điều kiện cơ sở hạ tầng quá khó khăn.
So với mặt bằng chung của tỉnh thì các xã, phường biên giới này phần lớn là những xã rất nghèo thuộc diện vùng sâu, vùng xa, hẻo lánh, trong đó 11 xã nằm trong Chương trình 135 của Chính phủ (trừ phường Hải Yên - TP Móng Cái). Hạ tầng kỹ thuật kinh tế - xã hội trong những năm qua đã được tỉnh quan tâm đầu tư song còn yếu, thiếu và chưa đồng bộ. Tính từ năm 2003 đến nay, ngân sách Nhà nước đã đầu tư cho khu vực này trên 500 tỷ đồng để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nhưng với đặc thù vị trí địa lý, diện tích tự nhiên rộng, địa hình đồi núi, sông suối phức tạp nên việc triển khai thực hiện xây dựng hệ thống giao thông rất khó khăn. Cộng với nguồn lực đầu tư từ ngân sách hạn chế nên hệ thống hạ tầng giao thông ở khu vực này vẫn đang nằm trong tình trạng thấp kém nhất so với mặt bằng chung của toàn tỉnh. Điển hình như 11 công trình đường ra biên giới đang được triển khai thực hiện với tổng mức đầu tư được phê duyệt trên 345 tỷ đồng nhưng trong suốt 7 năm (2003-2010) ngân sách mới bố trí được trên 125,9 tỷ đồng (đạt 36,5% nhu cầu vốn đầu tư), như vậy trung bình mỗi năm vốn đầu tư cho xây dựng 11 công trình này là 18 tỷ đồng (gồm cả ngân sách tỉnh và trung ương). Với nguồn lực đầu tư như vậy để có thể hoàn thành toàn bộ 11 công trình này trong điều kiện giá cả không thay đổi thì cần rất nhiều năm nữa mới có thể hoàn thành. Dù rằng đến nay Quảng Ninh đã đạt được mục tiêu của Chương trình 120 là 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã nhưng còn lại toàn bộ hệ thống đường giao thông thôn, bản phần lớn là đường mòn đi lại rất khó khăn. Theo quy hoạch tổng mức đầu tư cho hệ thống đường giao thông thôn, bản biên giới cần khoảng 150 tỷ đồng để giải quyết trước mắt cho các công trình bức thiết, nhưng cũng vì nguồn lực đầu tư từ ngân sách còn hạn chế nên đến nay cũng mới chỉ dành được trên 80 tỷ đồng để thực hiện các dự án công trình này từ ngân sách tỉnh và trung ương. Với nguồn lực đầu tư như thời gian qua, hệ thống công trình hạ tầng ở các xã biên giới mới chỉ đáp ứng 50-60% nhu cầu, trong đó đường giao thông nâng cấp, làm mới được trên 160km; xây mới, sửa chữa gần 100km kênh mương các loại và 15 công trình đập; 14 công trình cấp nước tập trung và 345 công trình phân tán. Ngoài ra, xây dựng được hệ thống trường học, cơ sở y tế, nhà văn hoá, công trình điện, chợ, san gạt mặt bằng tạo khu dân cư mới... Hệ thống cơ sở vật chất này mới chỉ tập trung ở trung tâm xã và các thôn, bản lân cận, còn ở các thôn, khe bản vùng sâu đang nằm trong tình trạng nhiều không, nhất là về đường giao thông, các công trình thuỷ lợi, nước sạch và điện sinh hoạt. Nguồn vốn đầu tư không thể tập trung đầu tư đồng bộ và dứt điểm các công trình ưu tiên trong thời gian sớm nhất (từ 1-2 năm) như: Các công trình đường ra biên giới, đường vành đai biên giới, đường lên các mốc biên giới, đường giao thông nối các cụm dân cư tập trung... thế nên hạ tầng cơ sở ở khu vực này càng thiếu sự đồng bộ.
Cũng theo ông Phan Văn Cần thì qua tính toán tổng nhu cầu vốn để ổn định dân cư các xã biên giới trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 5 năm (năm 2011-2015) là 220,608 tỷ đồng, trong đó riêng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng 190,988 tỷ đồng. Đây là khu vực vùng sâu vùng xa, cách xa trung tâm huyện lỵ và tỉnh. Địa hình phức tạp, núi cao hiểm trở do vậy đi lại khó khăn, hạn chế nhiều trong việc tiếp cận và giao lưu kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật cũng như thu hút các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài. Vì vậy không còn cách nào khác đó là ngân sách phải đầu tư, tạo điều kiện kích thích các nguồn lực đầu tư khác vào khu vực này để có thể khai thác được tiềm năng đất đai và điều kiện vị trí địa lý trong phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp và dịch vụ thương mại hàng hoá.
Ngọc Lan