Quản lý, sử dụng đất rừng của các công ty lâm nghiệp: Sao cứ mãi khúc mắc?

Chuyện tranh chấp đất rừng giữa các Công ty Lâm nghiệp và các hộ dân trên địa bàn đã diễn ra nhiều năm nay. Dân có lý của dân, doanh nghiệp có lý của doanh nghiệp. Chính quyền và cơ quan chức năng vào cuộc tháo gỡ được vụ tranh chấp ở địa bàn này xong thì lại xảy ra vụ tranh chấp ở địa bàn khác. Câu chuyện này sẽ còn mãi tiếp diễn nếu không nhìn nhận “gốc” của vấn đề để có giải pháp tháo gỡ triệt để.

Bắt nguồn từ quản lý lỏng lẻo

Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, nguyên nhân của tình trạng  trên là do hồ sơ giao đất cho các Công ty Lâm nghiệp trước đây còn sơ sài; bản đồ giao đất không theo hệ toạ độ chuẩn và không có mốc cắm ngoài thực địa. Đất sử dụng qua thời gian dài đã có biến động dẫn đến việc quản lý đất đai thực tế có nhiều khó khăn, thường xảy ra tranh chấp với các hộ dân sinh sống liền kề... Đặc biệt các Công ty, Ban Quản lý rừng chưa chủ động trong việc thực hiện các thủ tục về đất đai, nhất là trong việc phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương.

Ươm tạo cây giống trồng rừng ở Công ty Lâm nghiệp Hoành Bồ. Ảnh: Hữu Việt
Ươm tạo cây giống trồng rừng ở Công ty Lâm nghiệp Hoành Bồ. Ảnh: Hữu Việt

Để khắc phục những bất cập, tồn tại trong việc sử dụng đất của các Công ty Lâm nghiệp, trước tiên cần tăng cường quản lý từ hồ sơ đến thực địa.

Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 2 Công ty nông nghiệp (chuyển đổi từ các nông trường) sử dụng diện tích gần 10.000ha và 8 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp (chuyển đổi từ các lâm trường) được giao trên 63.000ha đất rừng, chiếm 14,7% tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh. Với diện tích đến thời điểm hiện nay không còn nhiều, các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp đã xây dựng phương án sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình sử dụng đất của đơn vị. Tuy nhiên, hầu hết các Công ty đều chưa chủ động trong việc thực hiện các thủ tục về đất đai như: Chưa chỉnh lý biến động đất đai đối với những diện tích đã bị thu hồi, trả lại cho địa phương quản lý. Điển hình như: Công ty Lâm nghiệp Uông Bí được giao 6.164ha từ năm 1996, đến nay đã có nhiều diện tích bị thu hồi cho các dự án khai thác than nhưng vẫn chưa làm thủ tục điều chỉnh lại diện tích giao đất. Công ty Lâm nghiệp Tiên Yên được giao 8.707ha đã trả lại cho địa phương 3.028ha từ năm 2006 nhưng cũng chưa làm thủ tục thu hồi đất, chỉnh lý lại diện tích giao đất. Đặc biệt các đơn vị chưa thực hiện việc chuyển sang thuê đất đối với những diện tích đất rừng sản xuất theo quy định của Nghị định số 200/2004/NĐ-CP của Chính phủ về sắp xếp đổi mới các lâm trường quốc doanh (hiện chỉ có Công ty Lâm nghiệp Ba Chẽ đã thực hiện xong thủ tục thuê đất). Nhiều dự án được giao đất trồng rừng nhưng tiến độ thực hiện chậm như: Công ty CP Đầu tư và Phát triển kinh tế trang trại thuỷ hải sản Thành Tín tại Tiên Yên; Công ty CP Liên Sơn; Công ty TNHH Bình Dương tại Vân Đồn; Công ty TNHH Hoài Nam tại Đầm Hà... Thêm vào đó, các Công ty chưa phối hợp với địa phương trong việc quản lý sử dụng đất; chưa tổ chức cắm mốc ranh giới ngoài thực địa. Ngoài ra, các Công ty Lâm nghiệp khi giao khoán đất cho các hộ dân trồng rừng không quản lý chặt chẽ dẫn đến việc vẫn còn một số hộ dân sử dụng sai mục đích theo hợp đồng, không trồng rừng mà tự ý san gạt sử dụng vào mục đích khác hoặc để cho các đối tượng vào thăm dò, khai thác than trái phép. Đáng bàn là công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) lâm nghiệp còn chậm, nhất là việc cấp giấy cho các hộ gia đình còn gặp nhiều vướng mắc (số giấy cấp cho các hộ dân mới đạt 55,23%; các tổ chức đạt 47,39%).

Tăng cường quản lý từ hồ sơ đến thực địa

Cũng theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, các Công ty Lâm nghiệp đã thực hiện việc giao khoán đất lâm nghiệp cho 2.233 hộ gia đình và cá nhân với tổng diện tích là 16.778ha (bằng 41,8% tổng diện tích rừng và đất rừng sản xuất được giao). Riêng đối với các khu vực đất rừng tại địa bàn khó khăn, xa dân, các Công ty vẫn tổ chức lực lượng trồng rừng tập trung. Việc giao khoán rừng và đất trồng rừng được xây dựng cơ chế khoán ổn định lâu dài và khoán theo chu kỳ (với mức bình quân 7,6ha/hộ nhận khoán) đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo. Cùng với đó, thực hiện đề án sắp xếp đổi mới, các Công ty Lâm nghiệp cũng đã tổ chức sản xuất kinh doanh theo hướng chuyên sâu kinh doanh lâm nghiệp là chính nhưng cũng mở ra hướng đa ngành, đa nghề nhằm phát huy được thế mạnh của từng đơn vị.

Có thể khẳng định việc sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp lâm nghiệp là đúng hướng. Các Công ty đã xác định được năng lực thực tế để sử dụng đất đai có hiệu quả, đồng thời phát huy các nguồn lực để làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững và hiệu quả; đời sống của công nhân các Công ty Lâm nghiệp ngày càng được cải thiện.

Chính vì vậy, để khắc phục những bất cập, tồn tại trong việc sử dụng đất của các Công ty Lâm nghiệp, trước tiên cần tăng cường quản lý từ hồ sơ đến thực địa. Theo đó, vừa qua Sở Tài nguyên và Môi trường đã làm việc với các Công ty Lâm nghiệp, Ban Quản lý rừng, qua đó đề nghị các đơn vị này rà soát diện tích đất đang quản lý sử dụng. Đồng thời lập hồ sơ điều chỉnh ranh giới giao đất và giấy CNQSDĐ đã cấp theo đúng diện tích thực tế đang quản lý. Phối hợp với các địa phương rà soát lại những diện tích đất không sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả để bàn giao lại cho địa phương quản lý, lập phương án giao đất cho nhân dân. Mặt khác, sau khi được giao đất, cho thuê đất, các Công ty Lâm nghiệp và những đơn vị đang sử dụng đất lâm nghiệp cần sử dụng đất đúng mục đích được giao, được thuê. Thêm vào đó, về công tác cấp giấy CNQSDĐ, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các địa phương hoàn thành dự án thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000 đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh để đẩy nhanh tiến độ lập hồ sơ địa chính, cấp giấy CNQSDĐ lâm nghiệp. Đặc biệt, thời gian tới, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở NN&PTNT, các địa phương cần tăng cường công tác lập hồ sơ giao đất, thuê đất; đồng thời báo cáo UBND tỉnh thu hồi đối với các đơn vị có vi phạm trong quản lý đất đai.

Hiểu Trân

Cùng chuyên mục