Thập kỷ đầu đổi mới "giai đoạn 1986-1996", Quảng Ninh từng bước tháo gỡ vướng mắc của cơ chế bao cấp để ổn định kinh tế - xã hội. Từ một tỉnh thiếu lương thực, hàng hóa khan hiếm và sản xuất đình trệ, địa phương đã chủ động giao quyền tự chủ cho cơ sở và người lao động. Những chuyển biến tích cực trong ngành Than, nông nghiệp, kinh tế cửa khẩu và khu vực tư nhân thời kỳ này không chỉ giải quyết bài toán đời sống trước mắt, mà còn tạo tiền đề vững chắc để Quảng Ninh bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ổn định để mở đường đổi mới
Quảng Ninh bước vào công cuộc đổi mới trong điều kiện hết sức khó khăn. Cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp chưa được tháo gỡ triệt để; sản xuất thiếu động lực, hàng hóa khan hiếm, giá cả biến động, đời sống công nhân và nhân dân nhiều nơi thiếu thốn. Với một địa phương có ngành than giữ vai trò chủ lực, bài toán đặt ra không chỉ là duy trì sản xuất, mà còn phải bảo đảm lương thực, ổn định đời sống, giữ vững an ninh chính trị và tạo niềm tin vào những cách làm mới.
Ngày 23/9/1986, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, đã gặp mặt thân mật đại biểu cán bộ và công nhân ưu tú ngành Than tại Hà Nội. Đồng chí chỉ thị: Ngành Than hết sức quan trọng, cả nước phải cùng chăm lo phát triển, vì đây là "lương thực" của công nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Các đồng chí trong ngành đã có rất nhiều cố gắng, khắc phục khó khăn để duy trì sản xuất. Cả nước đang đòi hỏi làm than nhiều hơn nữa. Đồng chí mong từ lãnh đạo đến cán bộ, công nhân toàn ngành ra sức phấn đấu để đáp ứng yêu cầu đó. Trong tình hình sản xuất giảm sút như mấy năm qua, các đồng chí cần phân tích xem đâu là phần khuyết điểm chủ quan của ngành, của công ty, xí nghiệp và của bản thân mỗi người thợ mỏ. Từ đó, đề ra kế hoạch phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm để đẩy mạnh sản xuất trong thời gian tới.
Quán triệt các chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, ngay sau đó, BCH Đảng bộ tỉnh phát động chiến dịch sản xuất và phục vụ sản xuất than “Quyết thắng” quý IV, phấn đấu vượt 5% kế hoạch năm 1986. Trong thời điểm nền kinh tế còn nhiều trì trệ, đây là một quyết định thể hiện rõ yêu cầu chấn chỉnh tổ chức sản xuất, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và giữ vững ngành kinh tế trụ cột của tỉnh.
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, diễn ra từ ngày 15 đến 20/10/1986, trở thành dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy lãnh đạo. Đại hội nhìn thẳng vào những hạn chế về năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, phân phối, lưu thông và đời sống nhân dân; từ đó xác định nhiệm vụ trước mắt là ổn định kinh tế - xã hội, tập trung phát triển sản xuất than, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Mục tiêu đến năm 1990 là đưa sản lượng lương thực vượt 150.000 tấn, năng suất lúa bình quân đạt trên 5 tấn/ha, sản lượng cá đạt 14.000 tấn; tổng kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm tăng gấp đôi giai đoạn 1981-1985. Đại hội VIII có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử phát triển của Quảng Ninh, là cơ sở để phát huy nguồn sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn của tỉnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, đánh dấu sự chuyển biến quan trọng trong tư tưởng và nhận thức chính trị của Đảng bộ tỉnh theo quan điểm đổi mới của Đảng.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18/12/1986 đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước. Chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm, nguyên nhân khách quan, chủ quan và rút ra bốn bài học kinh nghiệm lớn. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra đường lối đổi mới: Đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức, cán bộ và phong cách lãnh đạo của Đảng. Đại hội đề ra 3 chương trình kinh tế lớn: Sản xuất lương thực, thực phẩm -hàng tiêu dùng - hàng xuất khẩu, nhằm từng bước đưa nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng và tiếp tục đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhưng những năm đầu đổi mới không diễn ra bằng những bước đi thuận lợi. Năm 1987, Quảng Ninh lâm vào tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng. Trung ương chỉ cấp được 65.100 tấn trong tổng kế hoạch 115.000 tấn. Có thời điểm, nhiều địa phương gần như không còn gạo dự trữ; hàng nghìn gia đình công nhân phải ăn cháo, ăn độn sắn, thậm chí bán đồ dùng để mua gạo. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, hầu hết các cơ sở thiếu vốn sản xuất kinh doanh, thiếu vật tư…
Từ sức ép của thực tiễn, những quyết sách mới được hình thành. Ngày 14/3/1987, Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TU về thực hiện 3 Chương trình kinh tế lớn: Lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Tỉnh chủ trương dành từ 60 đến 70% tổng vốn đầu tư hằng năm cho 3 chương trình này; riêng năm 1987, 23,6% vốn xây dựng cơ bản được dành cho lương thực - thực phẩm, tập trung xây dựng các công trình thủy lợi tại Yên Hưng, Đông Triều, Hoành Bồ, bổ sung phân bón, thuốc trừ sâu và máy bơm phục vụ sản xuất. Nhờ đó, sản lượng lương thực năm 1987 đạt 120.272 tấn; sản lượng cá biển đạt 12.720 tấn, tăng 18,7%; than sạch đạt 5,9 triệu tấn, bằng 102,1% kế hoạch.
Thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 29-NQ/TU của Tỉnh ủy về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, Quảng Ninh từng bước khoán gọn đến hộ và người lao động, gắn trách nhiệm với lợi ích của người trực tiếp sản xuất. Đến hết quý III/1988, đã có 9/12 huyện, thị xã và 135/295 hợp tác xã thực hiện khoán theo đơn giá, thanh toán gọn. Tỷ lệ sản phẩm phân phối cho người lao động tăng từ 20-25% lên 40-45%; bộ máy quản lý hợp tác xã giảm từ 30-45%. Ruộng đất, trâu bò và tài sản được đánh giá lại; diện tích gieo trồng, cây vụ đông và sản lượng lương thực đều tăng. Từ chỗ sản xuất theo mệnh lệnh, người nông dân từng bước trở thành chủ thể trực tiếp quyết định hiệu quả trên diện tích được giao.
Không chỉ trong nông nghiệp, cơ chế hạch toán kinh doanh từng bước được mở rộng trong các cơ sở sản xuất. Quyền chủ động của doanh nghiệp, hợp tác xã và người lao động được đề cao hơn; kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và kinh tế hộ gia đình dần được thừa nhận, tạo thêm việc làm, hàng hóa và nguồn lực cho xã hội. Những nhân tố mới, dù còn nhỏ bé, đã cho thấy sức sản xuất có thể được khơi thông khi lợi ích và trách nhiệm được xác lập rõ hơn.
Cùng với đó, Quảng Ninh từng bước khôi phục giao lưu kinh tế biên giới. Tháng 2/1989, tỉnh cho phép mở cửa biên giới để nhân dân các xã giáp biên qua lại thăm thân và trao đổi hàng hóa thiết yếu tại Sảy Nguồn, Lục Lầm, Vạn Trốc và Hoành Mô; sau đó mở thêm các điểm giao dịch tại Vạn Gia (Vĩnh Thực), Mũi Ngọc (Móng Cái) cùng các chợ cửa khẩu Ka Long và Hoành Mô. Trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khép kín, đây là bước đi có ý nghĩa, vừa giải quyết nhu cầu dân sinh vừa mở thêm dòng lưu thông hàng hóa, tạo tiền đề cho kinh tế cửa khẩu phát triển về sau.
Trong 5 năm (1986-1991), thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng và nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá VIII, với quan điểm, quyết tâm mạnh dạn xoá bỏ bao cấp, thực hiện cơ chế 1 giá, giao quyền tự chủ cho cơ sở, được sự hỗ trợ của Trung ương, tỉnh đã ưu tiên đầu tư cho cơ sở hạ tầng, giải quyết có kết quả nhiều khó khăn gay gắt như vấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nhà ở, phương tiện đi lại cho nhân dân trong tỉnh. Bộ mặt xã hội của tỉnh có chuyển biến đáng kể, năng suất và sản lượng lương thực hàng năm đều tăng, bình quân đạt 2,25%/năm, phần lớn các địa phương trong tỉnh đã tự cân đối được lương thực trong khu vực nông thôn.
Tạo thế phát triển từ những quyết sách mới
Từ chỗ trông chờ vào bao cấp, Quảng Ninh từng bước phát huy nội lực, khuyến khích sản xuất và mở rộng giao lưu kinh tế. Chính sự chuyển biến về tư duy ấy đã giúp tỉnh vượt qua giai đoạn khó khăn nhất của thời kỳ chuyển đổi, tạo nền móng vững chắc để bước sang giai đoạn mới với tâm thế chủ động và nhiều kỳ vọng. Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (1991-1996) xác định tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, phát huy tiềm năng của một tỉnh công nghiệp, khai thác hiệu quả lợi thế về than, biển và cửa khẩu; đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng các hoạt động thương mại, dịch vụ và kinh tế đối ngoại. Đây là giai đoạn Quảng Ninh không chỉ tập trung vào tăng trưởng sản xuất mà còn chú trọng xây dựng môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế cùng phát triển, từng bước hình thành diện mạo mới của nền kinh tế địa phương.
Một chuyển biến quan trọng trong thời kỳ này là tư duy phát triển đã thay đổi rõ rệt. Nếu trước đây, tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và phân bổ theo kế hoạch, thì nay tỉnh từng bước coi trọng hiệu quả đầu tư, phát huy tính năng động của doanh nghiệp và cơ sở sản xuất. Kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể và kinh tế hộ gia đình tiếp tục được khuyến khích; nhiều cơ sở sản xuất mạnh dạn đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, tìm kiếm thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm. Hoạt động lưu thông hàng hóa ngày càng sôi động hơn, góp phần từng bước xóa bỏ tình trạng khan hiếm kéo dài trong nhiều năm trước.
Lợi thế cửa khẩu và đường biên giới với Trung Quốc cũng được phát huy rõ nét. Sau khi các hoạt động giao lưu, trao đổi hàng hóa được khôi phục, kinh tế cửa khẩu từng bước trở thành điểm sáng trong phát triển kinh tế của tỉnh. Không chỉ tạo điều kiện cho nhân dân vùng biên phát triển sản xuất, kinh doanh, hoạt động xuất nhập khẩu còn mở rộng không gian phát triển cho thương mại, dịch vụ và logistics, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách và việc làm cho người lao động. Những quyết sách này đã đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của khu vực Móng Cái trong những năm sau.
Song hành với phát triển kinh tế, Quảng Ninh tiếp tục quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội. Việc làm được mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được cải thiện; các chương trình xóa đói, giảm nghèo, chăm lo đồng bào vùng cao, vùng biên giới và hải đảo được triển khai đồng bộ. Công tác giáo dục, y tế, văn hóa có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và củng cố niềm tin của nhân dân đối với đường lối đổi mới.
Trong suốt quá trình ấy, công tác xây dựng Đảng luôn được xác định là nhiệm vụ then chốt. Đảng bộ tỉnh chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực của tổ chức cơ sở đảng, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Chính sự thống nhất trong lãnh đạo, điều hành đã tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội, bảo đảm các chủ trương đổi mới được triển khai hiệu quả từ tỉnh đến cơ sở.
Việc thực thi cơ chế chính sách đổi mới đã tạo cho Quảng Ninh một diện mạo mới và bước phát triển nhanh chóng. GDP tăng bình quân từ 9,6%/năm giai đoạn 1986-1995 lên 12,65%/năm trong giai đoạn 1996-2005, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân hàng năm từ 18 đến 20% năm… Từ một tỉnh Trung ương phải hỗ trợ 90% nhu cầu lương thực, thực phẩm, 70-80% về ngân sách, đến năm 1995, Quảng Ninh đã cân đối được ngân sách, có đóng góp cho Trung ương, tự giải quyết được những khó khăn lớn về hàng hóa tiêu dùng, lương thực, thực phẩm…
Trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996), Quảng Ninh đã có sự chuyển biến căn bản về tư duy phát triển. Từ một địa phương còn nhiều khó khăn, chịu sự chi phối nặng nề của cơ chế bao cấp, tỉnh từng bước chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy nội lực, mở rộng hợp tác, khai thác hiệu quả tiềm năng về than, biển và cửa khẩu. Những quyết sách được hình thành trong giai đoạn này đã tạo nền móng quan trọng để Quảng Ninh bước vào thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước khẳng định vị thế là một trong những cực tăng trưởng của vùng Đông Bắc.